Advertisement

Nhận bản tin

Liên hệ quảng cáo

Email: banbientap@baocungcau.net

Hotline: 0917 267 237

icon logo

Quên mật khẩu?

Có tài khoản? Đăng nhập

Vui lòng nhập mật truy cập tài khoản mới khẩu

Thay đổi email khác
icon

Đà giảm giá heo hơi sẽ còn kéo dài sang tuần tới?

Giá cả hàng hóa

16/08/2020 15:23

Dự báo giá heo hơi tuần tới (17-22/8) tiếp tục duy trì đà giảm, khi người dân đang tích cực tái đàn, giúp tổng sản lượng heo tăng và hỗ trợ nguồn cung cho thị trường.

Trong tuần qua, giá heo hơi tiếp tục giảm trung bình từ 1.000 - 5.000 đồng/kg trên cả nước. Cụ thể, tại miền Bắc ghi nhận giá heo hơi có mức giảm mạnh trong tuần này, riêng Hà Nội giảm sâu 5.000 đồng/kg xuống còn 83.000 đồng/kg. Trong đó, giá heo hơi tại miền Trung và Nam lại có một tuần tăng giảm trái chiều tại các tỉnh, thành. 

Hiện tại, giá heo các địa phương ở miền Bắc đang bán ở mức 83.000 - 86.000 đồng/kg, tại miền Trung và Nam từ 80.000 - 87.000 đồng/kg.

Giá heo hơi trong tuần đã bắt đầu hạ nhiệt, sau khi tổng sản lượng đàn heo ông bà đã tăng và heo giống giảm còn 2,5 triệu đồng/con.

Theo thống kê của Cục Chăn nuôi, trong tổng đàn heo nái ông bà của Việt Nam, các giống nhập ngoại hiện chiếm 80%, nái lai giữa heo ngoại với heo nội và nái thuần chiếm 20%. 

Theo Cục Chăn nuôi, trong điều kiện khó khăn về con giống, hiện các cơ sở chăn nuôi đã chọn giải pháp tăng tỉ lệ chọn heo giống từ 5 lên 6 con/nái sinh sản ông bà vào phối giống. 

Như vậy, Cục Chăn nuôi tính toán, trên cơ sở 109.000 con heo nái ông bà vào phối giống, kết quả đã tăng trưởng được trên 18.000 con nái ông bà. 

Số lượng 18.000 con heo nái ông bà mới được nhân giống cơ bản đã bù đắp kịp thời số lượng heo ông bà giảm do dịch tả heo Châu Phi, là 11.000 con. 

Sau khi dịch tả heo Châu Phi tạm qua đi, nhiều địa phương công bố hết dịch, nhu cầu cao về con giống tái đàn đã đẩy giá heo giống tăng cao hơn, theo báo Nông Nghiệp Việt Nam. 

Tại một số trại heo và người chăn nuôi nhỏ tại ở ĐBSCL còn trụ được qua mùa dịch này, heo giống sau cai sữa 10 ngày, trọng lượng khoảng 8-10 kg/con, giá khoảng 2,5 triệu đồng/con

Bên cạnh đó, quy trình chăn nuôi an toàn sinh học đã được nhân rộng trong các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Với mục tiêu kiểm soát tốt dịch bệnh, đảm bảo an toàn đàn vật nuôi, ngành Chăn nuôi luôn đẩy mạnh, phát triển hình thức chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học.

Tuy nhiên, quy trình này chỉ mới được áp dụng tại các trang trại chăn nuôi tập trung có quy mô công nghiệp, chưa nhân rộng ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.

Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh, chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học là quy trình chăn nuôi ứng dụng các biện pháp kĩ thuật, quản lí nhằm ngăn ngừa, hạn chế sự lây nhiễm các tác nhân gây bệnh trên đàn vật nuôi và có khả năng gây hại đến con người và môi trường.

Ông Nguyễn Văn Lâm, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y, cho hay: Thời gian qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ, ngành Nông nghiệp cũng đã triển khai nhiều mô hình, tổ chức các lớp tập huấn để người chăn nuôi tiếp cận với quy trình chăn nuôi này.

Nhờ vậy mà những năm gần đây, mặc dù trên địa bàn tỉnh xảy ra nhiều đợt dịch bệnh nguy hiểm, nhất là dịch tả heo châu Phi, gây thiệt hại lớn nhưng các trang trại vẫn phát triển ổn định, không bùng phát dịch, theo ghi nhận của báo Phú Yên. 

Ông Võ Văn Tính ở xã Hòa Quang Bắc (huyện Phú Hòa) cho biết: Trang trại nuôi heo rộng 2ha của gia đình tôi được xây dựng cách xa khu dân cư hơn một cây số. Các khu chuồng có công nghệ chuồng lạnh, áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học.

Từ con giống, thức ăn, nước uống, người ra vào trại đều được kiểm soát chặt chẽ... Nhờ vậy, đợt dịch tả heo châu Phi hồi năm 2019, trại heo không bị ảnh hưởng gì, toàn bộ đàn nuôi đều an toàn, không nhiễm bệnh.

BẢNG GIÁ HEO HƠI DỰ BÁO NGÀY 17/8/2020
Tỉnh/thành Khoảng giá (đồng/kg) Tăng ( )/giảm (-) đồng/kg
Hà Nội 84.000-85.000 -1.000
Hải Dương 85.000-86.000 Giữ nguyên
Thái Bình 86.000-87.000 -2.000
 Bắc Ninh 86.000-87.000 Giữ nguyên
Hà Nam 84.000-85.000 -1.000
Hưng Yên 86.000-87.000 -1.000
Nam Định 86.000-87.000 -2.000
Ninh Bình 87.000-88.000 -1.000
Hải Phòng 86.000-87.000 Giữ nguyên
Quảng Ninh 87.000-88.000 Giữ nguyên
Lào Cai 83.000-84.000 -1.000
Tuyên Quang 87.000-88.000 -1.000
Cao Bằng 83.000-84.000 Giữ nguyên
Bắc Kạn 85.000-86.000 Giữ nguyên
Phú Thọ 85.000-86.000 -1.000
Thái Nguyên 87.000-88.000 -2.000
Bắc Giang 87.000-88.000 -2.000
Vĩnh Phúc 86.000-87.000 -2.000
 Lạng Sơn 85.000-86.000 Giữ nguyên
Lai Châu 87.000-88.000 Giữ nguyên
Thanh Hóa 86.000-87.000 Giữ nguyên
Nghệ An 84.000-85.000 -1.000
Hà Tĩnh 86.000-87.000 -1.000
Quảng Bình 80.000-82.000 Giữ nguyên
Quảng Trị 83.000-84.000 -1.000
TT-Huế 83.000-84.000 -1.000
Quảng Nam 83.000-84.000 Giữ nguyên
Quảng Ngãi 80.000-81.000 Giữ nguyên
Bình Định 81.000-82.000 -1.000
Phú Yên 81.000-82.000 Giữ nguyên
Ninh Thuận 87.000-88.000 -1..000
Khánh Hòa 86.000-87.000 Giữ nguyên
Bình Thuận 80.000-81.000 Giữ nguyên
Đắk Lắk 84.000-85.000 -1.000
Đắk Nông 80.000-81.000 Giữ nguyên
Lâm Đồng 86.000-87.000 -1.000
Gia Lai 84.000-85.000 Giữ nguyên
Đồng Nai 85.000-86.000 -1.000
TP.HCM 85.000-86.000 -2.000
Bình Dương 85.000-86.000 -2.000
Bình Phước 84.000-85.000 -2.000
BR-VT 85.000-86.000 -1.000
Long An 87.000-88.000 Giữ nguyên
Tiền Giang 83.000-84.000 -1.000
Bạc Liêu  81.000-82.000 -1.000
Bến Tre 82.000-83.000 -1.000
Trà Vinh 80.000-81.000 -1.000
Cần Thơ 82.000-83.000 -1.000
Hậu Giang 83.000-84.000 Giữ nguyên
Cà Mau 85.000-86.000 -2.000
Vĩnh Long 80.000-81.000 -1.000
An Giang 85.000-86.000 -1.000
Kiêng Giang 85.000-86.000 -2.000
Sóc Trăng 84.000-85.000 -1.000
Đồng Tháp 81.000-82.000 -1.000
Tây Ninh 83.000-84.000 Giữ nguyên
PHƯỢNG LÊ
iconChia sẻ icon Chia sẻ
icon Chia sẻ

Advertisement