Advertisement

Nhận bản tin

Liên hệ quảng cáo

Email: banbientap@baocungcau.net

Hotline: 0917 267 237

icon logo

Quên mật khẩu?

Có tài khoản? Đăng nhập

Vui lòng nhập mật truy cập tài khoản mới khẩu

Thay đổi email khác
icon

Các đồng tiền châu Á có thể chịu được áp lực tăng giá của đồng USD?

Vàng - Ngoại tệ

18/05/2024 09:09

Theo tờ The Edge Malaysia Weekly đồng USD tăng giá đang làm dấy lên nhiều lo ngại về xu hướng tiền tệ ở châu Á.

Sự tàn phá do cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997 gây ra vẫn còn mới mẻ trong tâm trí nhiều người. "Cơn thịnh nộ" năm 2013 cũng vậy khi đồng rupiah của Indonesia, rupee của Ấn Độ và peso của Philippines đều "ngất ngây" chỉ vì Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang nghĩ đến việc thắt chặt chính sách tiền tệ.

Dù nhiều năm đã trôi qua kể từ những sự kiện đó, sự sụt giảm tỷ giá hối đoái gần đây ở châu Á đã dẫn đến những suy đoán đáng lo ngại về những điều tồi tệ hơn sắp xảy ra như khả năng phá giá đồng nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc.

Đồng USD có khả năng đã đạt đỉnh

Nguyên nhân chính khiến các đồng tiền châu Á suy yếu là do sức mạnh của đồng USD. Tuy nhiên, một số yếu tố thúc đẩy sự tăng giá của đồng USD dường như không kéo dài.

Có bằng chứng rõ ràng cho thấy tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ chậm lại trong nửa cuối năm 2024 do tác động của lãi suất cao hơn gây thiệt hại và do một số hỗ trợ mà nền kinh tế được hưởng trở nên yếu đi, như chi tiêu của người tiêu dùng có thể suy yếu.

Các đồng tiền châu Á có thể chịu được áp lực tăng giá của đồng USD?- Ảnh 1.

Đồng 10.000 yen và đồng 100 USD. Ảnh minh họa: AFP/TTXVN

Báo cáo tiền lương tháng 4/2024 cho thấy tốc độ tạo việc làm chậm hơn trong khi tỷ lệ việc làm còn trống tính trên số người thất nghiệp đang giảm, có nghĩa là tăng trưởng thu nhập có thể giảm bớt. Hơn nữa, khoản tiền tiết kiệm lớn mà người tiêu dùng xây dựng trong thời kỳ đại dịch sẽ phần lớn được chi tiêu vào nửa cuối năm 2024.

Một rủi ro khác là tác động chậm trễ của việc thắt chặt tiền tệ khắt khe trong hai năm qua. Rủi ro đối với chi tiêu của người tiêu dùng xuất phát từ những dấu hiệu căng thẳng tín dụng đang nổi lên trong nền kinh tế Mỹ, đặc biệt là ở những người đi vay có thu nhập thấp đang gặp khó khăn trong việc đáp ứng nghĩa vụ vay vốn của mình.

Khi tỷ lệ nợ quá hạn của người tiêu dùng tăng lên, cũng có nhiều báo cáo hơn về việc các cá nhân bị cạn kiệt tiền tiết kiệm trong bối cảnh giá cả tăng cao và lãi suất cao liên tục. Lĩnh vực bất động sản thương mại cũng tiếp tục có dấu hiệu căng thẳng.

Đồng USD cũng được củng cố bởi sự gia tăng của các rủi ro địa chính trị, thúc đẩy dòng vốn trú ẩn an toàn vào đồng tiền này. Với tình hình ở Ukraine và Trung Đông tiếp tục căng thẳng, các nhà đầu tư khó có thể mong đợi một thế giới an toàn hơn vào thời điểm hiện tại và do đó "đồng bạc xanh" sẽ tiếp tục được hưởng dòng vốn chảy vào.

Tuy nhiên, khi chiến dịch bầu cử Tổng thống Mỹ "nóng" lên, thị trường có thể bắt đầu tập trung nhiều hơn vào những tác động của việc cựu Tổng thống Donald Trump trở lại nắm quyền. Chương trình nghị sự của ông về những hạn chế thương mại cực kỳ quyết liệt đối với Trung Quốc và thái độ ít dễ chịu hơn đối với các đồng minh lâu đời sẽ khiến các nhà đầu tư trên toàn thế giới lo lắng. Chiến dịch này cũng có thể sẽ trở nên gay gắt và khó chịu, ảnh hưởng hơn nữa đến nhận thức của thị trường về rủi ro ở Mỹ so với phần còn lại của thế giới.

Ngoài những vấn đề trước mắt này, còn có câu hỏi cơ bản hơn về đồng USD liên quan đến tình hình tài chính của Mỹ. IMF cùng với các cơ quan khác đã đưa ra cảnh báo về mức thâm hụt tài chính lớn của Mỹ dự kiến lên tới 7,1% GDP vào năm 2025. Con số đó cao gấp hơn ba lần mức trung bình 2% của các nền kinh tế tiên tiến khác cũng như chưa từng có đối với Mỹ trong thời bình và tiếp tục tăng trưởng kinh tế.

Giới tinh hoa chính trị Mỹ bị chia rẽ và muốn tránh thảo luận về giải pháp cho thách thức tài chính. Không ngạc nhiên nếu tình hình tài chính của Mỹ và mức nợ công khổng lồ của nước này tập trung nhiều hơn vào thị trường tài chính.

Trung Quốc khó có khả năng phá giá

Một số nhà kinh tế có uy tín cho rằng Trung Quốc sẽ có ít lựa chọn ngoài việc để đồng NDT mất giá vì nền kinh tế đang suy thoái đòi hỏi chính sách tiền tệ nới lỏng hơn để kích thích nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, lãi suất thấp hơn và tính thanh khoản của đồng NDT cao hơn có thể sẽ dẫn đến dòng vốn chảy ra ngoài, và do đó đồng NDT yếu hơn.

Những người ủng hộ quan điểm này chỉ ra rằng nền kinh tế đang phải vật lộn để duy trì hoạt động trong bối cảnh nhu cầu trong nước yếu và lĩnh vực bất động sản trì trệ. Dữ liệu gần đây cho thấy nền kinh tế ổn định hơn nhưng những cơn gió ngược vẫn còn mạnh.

Các đồng tiền châu Á có thể chịu được áp lực tăng giá của đồng USD?- Ảnh 2.

Kiểm đồng 100 Nhân dân tệ tại ngân hàng ở tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Ảnh minh họa: AFP/TTXVN

Tuy nhiên, mối lo ngại của các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc về việc duy trì sự ổn định có nghĩa là họ cảnh giác về việc từ bỏ quyền kiểm soát tỷ giá hối đoái. Nếu họ không phá giá đồng NDT trong thời điểm khủng hoảng tài chính châu Á 1997/98 thì không có lý do gì để họ phải làm như vậy vào lúc này khi thách thức đã ít hơn nhiều.

Chính quyền Trung Quốc biết rằng nhược điểm của việc phá giá đồng nội tệ gần như chắc chắn sẽ lớn hơn bất kỳ lợi ích nào khác. Việc phá giá đồng NhDT chắc chắn sẽ khiến các đồng tiền của đối thủ cạnh tranh mất giá mạnh và tạo ra tình trạng hỗn loạn trên thị trường tài chính nói chung.

Tiền tệ châu Á được hỗ trợ bởi các yếu tố cơ bản mạnh mẽ

Các nhà hoạch định chính sách châu Á đã quản lý khá tốt tình trạng hỗn loạn hiện tại trên thị trường tiền tệ. Các ngân hàng trung ương đã nhanh chóng cho các nhà đầu tư thấy rằng họ sẽ làm những gì cần thiết để bảo vệ tiền tệ của mình, đó là lý do các quyết định chính sách gần đây nghiêng về thái độ diều hâu.

Ngân hàng trung ương Thái Lan đã nhẹ nhàng bác bỏ áp lực của Chính phủ về việc cắt giảm lãi suất, đồng thời truyền đạt rõ ràng lý do họ làm như vậy. Các ngân hàng trung ương khác đã ra tín hiệu cho các nhà đầu tư không mong đợi việc cắt giảm lãi suất sớm. Việc tuân thủ chính sách tiền tệ nghiêm ngặt này báo hiệu cam kết của các nhà hoạch định chính sách châu Á trong việc duy trì sự ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát, nâng cao niềm tin của nhà đầu tư vào các nguyên tắc kinh tế cơ bản của khu vực.

Nó cũng giúp các số liệu khác nhau về khả năng phục hồi bên ngoài vẫn mạnh mẽ - một sự khác biệt lớn so với năm 1997 và 2013. Dự trữ ngoại hối đã được cải thiện ở hầu hết các nền kinh tế. Tỷ lệ dự trữ tính trên nợ nhìn chung vẫn ổn định ở các nền kinh tế chính trong khu vực, tạo ra lớp đệm chống lại các lỗ hổng bên ngoài, giúp trấn an các nhà đầu tư về sự ổn định và khả năng phục hồi của nền kinh tế.

Cuối cùng, thước đo quan trọng nhất về sức mạnh bên ngoài - cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia - đã và đang được cải thiện ở hầu hết các nền kinh tế. Các nhà đầu tư sẽ có nhiều lý do hơn để kỳ vọng vào vị thế bên ngoài mạnh mẽ khi hoạt động thương mại phục hồi và doanh thu từ du lịch tăng lên.

Đáng chú ý, có nhiều bằng chứng hơn về sự phục hồi mạnh mẽ của chu kỳ điện tử toàn cầu sẽ thúc đẩy xuất khẩu của châu Á. Tâm lý người tiêu dùng ngày càng tăng đang thúc đẩy việc mua hàng công nghệ, thúc đẩy sự phục hồi của ngành bắt đầu vào đầu năm 2024. Bằng chứng cho sự phục hồi này có thể thấy rõ ở các xứ sở công nghệ hàng đầu như Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc).

Dữ liệu xuất khẩu gần đây cho thấy doanh số bán sản phẩm thông tin, truyền thông và âm thanh-video của Đài Loan (Trung Quốc) tăng 165%. Sự tăng trưởng này, được hỗ trợ bởi nhu cầu mạnh mẽ đối với các ứng dụng liên quan đến AI, đã đẩy đơn hàng xuất khẩu lên 133,32 tỷ USD trong quý I/2024, đánh dấu mức giảm chỉ 2,1% hàng năm, chậm nhất trong 5 quý.

Tương tự, xuất khẩu của Hàn Quốc cũng có mức tăng trưởng mạnh mẽ, chủ yếu do nhu cầu sản phẩm liên quan đến chất bán dẫn tăng vọt. Điều này báo hiệu sự phục hồi bền vững trong chu kỳ điện tử toàn cầu, nhấn mạnh vai trò then chốt của Hàn Quốc trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định trong khu vực.

Cùng với sự cải thiện này là sự phục hồi của ngành du lịch. Theo Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế, nhu cầu đi lại trong khu vực đã phục hồi đáng kể vào tháng 12/2023, đạt gần 83% mức trước đại dịch, so với mức chỉ 57% vào tháng 1/2023. Sự gia tăng du lịch dự kiến sẽ tiếp tục diễn ra khi các nước trong khu vực thực hiện các biện pháp thu hút khách du lịch.

Ví dụ, Hàn Quốc đã đưa ra các sáng kiến du lịch miễn thị thực, theo bước các quốc gia khác như Singapore và Trung Quốc vốn đã đồng ý miễn thị thực trong 30 ngày cho công dân của họ kể từ ngày 9/2. Tương tự, Thái Lan cũng đã miễn thị thực đối với công dân Trung Quốc và Ấn Độ để kích thích du lịch, với các kế hoạch đang được tiến hành nhằm mở rộng đặc quyền du lịch miễn thị thực cho công dân của nhiều quốc gia hơn.

Tất cả những điều này mặc dù vẫn còn những dấu hỏi đối với nền kinh tế Trung Quốc, nhưng kết quả rất có thể xảy ra là nền kinh tế Trung Quốc phục hồi đà tăng trưởng khiêm tốn. Rõ ràng là các nhà hoạch định chính sách ở Trung Quốc đang đẩy mạnh các biện pháp để đảm bảo đạt được mục tiêu tăng trưởng 5% đầy tham vọng trong năm 2024.

Một loạt khảo sát Chỉ số Nhà quản trị Mua hàng (PMI) mới nhất cho thấy mọi thứ đang bắt đầu cải thiện sau sự suy thoái do thương mại gây ra vào năm 2023. Một số tổ chức quốc tế, gần đây nhất là IMF, đã khẳng định quan điểm rằng các nền kinh tế châu Á đã sẵn sàng để cải thiện tăng trưởng vào năm 2024 nhờ vào các động lực hỗ trợ trong tiêu dùng trong và ngoài nước, cũng như chi tiêu vốn tăng lên.

Ấn Độ và Đông Nam Á không nhận được đủ tín dụng cho sự cải thiện to lớn về khả năng phục hồi kinh tế mà họ đã đạt được trong những năm gần đây, điều sẽ giúp hỗ trợ đồng tiền của họ. Trong một thế giới đầy rẫy rủi ro, điều này rất quan trọng. Chắc chắn sẽ có những cú sốc đối với mọi nền kinh tế có mối liên hệ với nền kinh tế thế giới.

Vấn đề mấu chốt là khả năng nền kinh tế có thể hấp thụ những cú sốc tiềm tàng đó và phục hồi trở lại. Sự cải thiện rõ rệt về khả năng phục hồi của châu Á thể hiện rõ ở cách khu vực đối mặt với một loạt cú sốc như đợt thắt chặt tiền tệ mạnh nhất trong nhiều thập kỷ, một loạt cú sốc địa chính trị, chủ nghĩa bảo hộ thương mại ngày càng gia tăng và sự đình trệ của kinh tế Trung Quốc.

Một trong những nguồn lực quan trọng nhất cho khả năng phục hồi của các nền kinh tế này và đồng tiền của họ là độ tin cậy được cải thiện trong quá trình hoạch định chính sách. So với một thập kỷ trước, thị trường tài chính đã thoải mái hơn với cách các ngân hàng trung ương trong khu vực thực hiện chính sách tiền tệ và cách họ duy trì sự độc lập ngay cả khi chịu áp lực chính trị. Các bộ trưởng tài chính cũng đã thể hiện quyết tâm kiểm soát thâm hụt tài chính, ngay cả khi nền kinh tế chậm lại.

Điểm mấu chốt là đồng USD có thể tăng thêm trong những tuần tới và gây thêm áp lực lên các đồng tiền châu Á. Tuy nhiên, ngoài rủi ro ngắn hạn đó, vẫn còn cơ sở tốt để tin tưởng vào sự phục hồi cuối cùng ở châu Á.

(Nguồn: TTXVN)

P.V (tổng hợp)
iconChia sẻ icon Chia sẻ
icon Chia sẻ

Advertisement