Giá vàng Mua Bán
Vàng SJC 41.28 41.52
Vàng nữ trang 24 K 40.7 41.5
Tỷ giá VND
EUR Euro 26.282,50
JPY Yên Nhật 219,83
USD Đô Mỹ 23.265,00
Chứng khoán
VNIndex 1,004.88 -5.15 -0.51%
HNX 105.31 -0.72 -0.68%
UPCOM 57.0 0.29 0.51%

Việt Nam nhập siêu lớn từ Trung Quốc

MY MY (t/h) 11:21 | 07/10/2019 GMT+7

Cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đang có sự chênh lệch lớn với con số nhập siêu của Việt Nam lên đến hơn 25 tỷ USD chỉ trong 8 tháng đầu năm nay.

Trong hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ có quan hệ ngoại thương với Việt Nam, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ hai (sau Mỹ).

8 tháng đầu năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu giữa 2 nước đạt gần 73 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 23,89 tỷ USD, giảm 2% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 13,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Các nhóm hàng xuất khẩu lớn sang Trung Quốc gồm: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại và linh kiện; hàng nông sản…

Đáng lo ngại là các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đều gặp khó ở thị trường Trung Quốc như: Xuất khẩu điện thoại và linh kiện chỉ đạt 3,16 tỷ USD, giảm tới 24,2% so với cùng kỳ năm trước; nhóm hàng nông sản (bao gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su) chỉ đạt 3,81 tỷ USD, giảm 10,4%... Nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của nước ta sang Trung Quốc là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chỉ tăng 7,6%, đạt 5,59 tỷ USD.

Ngược lại, tốc độ nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc tăng rất cao. Với tổng kim ngạch đạt 49 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2018 và chiếm 29,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.

Hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu chủ lực của Việt Nam có trong “rổ” thống kê của Tổng cục Hải quan được công bố định kỳ đều có sự xuất hiện của hàng hóa Trung Quốc. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt kim ngạch lớn nhất 9,38 tỷ USD, tăng 23,4% so với cùng kỳ 2018.

   

 

Ngoài ra, còn nhiều nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD như: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 7,95 tỷ USD, tăng 68,3%; vải may mặc 5,06 tỷ USD, tăng 9,2%; điện thoại các loại và linh kiện hơn 4,95 tỷ USD, giảm 5,2%; sắt thép hơn 2,45 tỷ USD, giảm 21,5%; sản phẩm nhựa 1,63 tỷ USD, tăng 21,7%…

Trong 8 tháng đầu năm nay, hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018, trong đó tăng mạnh ở cac nhóm hàng sau: Ô tô nguyên chiếc tăng 788,4%, đạt 144,81 triệu USD; Bông các loại tăng 269,7%, đạt 4,32 triệu USD; Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc tăng 96,3%, đạt 23 triệu USD; Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 68,3%, đạt 7,95 tỷ USD; Dây điện và dây cáp điện tăng 55%, đạt 624,24 triệu USD.

Tuy nhiên, nhập khẩu lại giảm mạnh ở một số nhóm hàng sau: Dầu mỡ động, thực vật giảm 48,6% so với cùng kỳ, chỉ đạt 5,77 triệu USD; Quặng và khoáng sản giảm 29,4%, đạt 35,84 triệu USD; Sắt thép các loại giảm 21,5%, đạt 2,45 tỷ USD.

Cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đang có sự chênh lệch lớn với con số nhập siêu của Việt Nam lên đến hơn 25 tỷ USD chỉ trong 8 tháng đầu năm nay.

Với kim ngạch bình quân hơn 9 tỷ USD/tháng trong 8 tháng đầu năm và với tốc độ tăng trưởng hiện nay, nhiều khả năng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ năm thứ 2 liên tiếp đạt mốc hơn 100 tỷ USD.

Trong lịch sử quan hệ ngoại thương của Việt Nam, Trung Quốc là đối tác thương mại đầu tiên cán mốc 100 tỷ USD vào năm 2018. Cụ thể, năm 2018, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 41,268 tỷ USD tăng 5,86 tỷ USD so với năm 2017, tăng trưởng 16,6%. Trong khi đó, nhập khẩu trị giá 65,44 tỷ USD, tăng 6,85 tỷ USD, tăng gần 11,7%. Như vậy, kim ngạch thương mại của 2 nước đạt 106,706 tỷ USD, tăng 12,71 tỷ USD so với năm 2017

Năm 2018, riêng thị trường Trung Quốc chiếm đến 22,23% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại trong nhiều năm qua là mức thâm hụt thương mại của nước ta với Trung Quốc vẫn ở mức cao. Năm 2018, Việt Nam nhập siêu hơn 24 tỷ USD từ Trung Quốc, tăng 1 tỷ USD so với năm 2017.

Nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc 8 tháng đầu năm 2019 ĐVT: USD

Nhóm hàng

Tháng 8/2019

+/- so với tháng 7/2019(%)*

8 tháng đầu năm 2019

+/- so với cùng kỳ năm trước (%)*

Tổng kim ngạch NK

6.584.869.158

-3,03

49.003.342.219

17,7

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

1.340.532.708

4,13

9.377.594.798

23,39

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

1.063.047.968

-0,46

7.952.870.985

68,29

Vải các loại

585.107.962

-14,42

5.060.324.066

9,2

Điện thoại các loại và linh kiện

786.750.780

1,46

4.953.512.229

-5,23

Sắt thép các loại

262.675.921

-2,92

2.454.377.459

-21,51

Sản phẩm từ chất dẻo

233.319.766

-2,88

1.629.524.788

21,66

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

206.935.649

-3,08

1.592.579.235

11,3

Sản phẩm từ sắt thép

178.460.088

-9,82

1.250.305.950

27,96

Hóa chất

135.453.565

-12,04

1.092.149.396

 

Kim loại thường khác

137.531.589

4,12

1.068.883.158

27,23

Sản phẩm hóa chất

132.880.064

-9,3

998.170.488

11,76

Xơ, sợi dệt các loại

103.802.044

-15,48

897.202.942

11,12

Chất dẻo nguyên liệu

113.011.340

-8,38

840.689.371

16,86

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

129.707.810

12,04

750.674.319

35,68

Sản phẩm từ kim loại thường khác

91.846.992

-11,97

666.682.653

56,19

Dây điện và dây cáp điện

103.832.691

21,72

624.236.911

54,96

Xăng dầu các loại

92.931.902

11,87

624.022.532

-8,67

Linh kiện, phụ tùng ô tô

59.449.531

-10,31

471.890.413

15,43

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

73.562.152

9,29

405.000.152

24,52

Gỗ và sản phẩm gỗ

57.361.736

3,82

365.363.110

37,55

Hàng điện gia dụng và linh kiện

42.305.266

-11,58

360.970.269

12,6

Thuốc trừ sâu và nguyên liệu

28.521.909

-12,2

329.940.891

10,71

Hàng rau quả

37.975.321

-27,2

309.951.950

23,68

Giấy các loại

36.535.055

-3,54

246.778.227

13,15

Phân bón các loại

29.990.601

39,34

239.948.908

-2,3

Sản phẩm từ giấy

32.444.131

-6,79

230.183.047

22,04

Khí đốt hóa lỏng

24.263.418

-7,74

221.840.862

4,63

Sản phẩm từ cao su

27.926.902

-5,24

209.808.215

21,54

Than các loại

11.106.686

-52,17

195.058.869

-1,34

Nguyên phụ liệu dược phẩm

18.157.593

-12,47

168.653.271

-2,06

Ô tô nguyên chiếc các loại

12.365.679

-40,75

144.809.033

788,4

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

14.577.168

-7,07

126.790.792

-20,03

Hàng thủy sản

10.178.567

-3,59

91.189.663

21,77

Phương tiện vận tải khác và phụ tùng

6.237.171

-52,91

76.519.305

25,93

Sản phẩm khác từ dầu mỏ

11.860.454

132,16

68.010.818

17,24

Nguyên phụ liệu thuốc lá

4.592.678

48,01

56.640.348

-0,31

Cao su

6.801.382

6,78

54.846.041

14,65

Chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh

4.568.652

-15,43

39.839.315

1,32

Quặng và khoáng sản khác

4.282.249

4,7

35.844.805

-29,44

Chế phẩm thực phẩm khác

4.990.122

-14,26

35.225.781

24,69

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

1.808.195

-68,95

27.400.691

35,78

Dược phẩm

2.557.366

-35,73

24.681.486

-2,22

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

2.943.465

-22,74

23.000.064

96,29

Dầu mỡ động, thực vật

693.297

-23,1

5.772.858

-48,62

Bông các loại

359.137

-43,92

4.323.649

269,69

Hàng hóa khác

318.624.438

-12,92

2.599.258.109

 

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)

Từ khóa:
id news:185912