Vàng Mua Bán
SJC HN 55,850 56,370
SJC HCM 55,850 56,350
DOJI AVPL / HN 55,900 56,300
DOJI AVPL / HCM 55,900 56,300
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,060.00 23,090.00
EUR 26,658.93 26,928.21
GBP 29,526.13 29,824.38
JPY 215.64 217.81
Chứng khoán
VNIndex 961.26 11.36 1.18%
HNX 141.7 0.84 0.59%
UPCOM 63.64 -0.11 -0.17%

SCMP: Tác động kinh tế do COVID-19 ở Đông Nam Á rất nghiêm trọng, ngoại trừ Việt Nam

NGỌC CHÂU 15:24 | 30/09/2020

Mặc dù có tỷ lệ tổng số ca nhiễm COVID-19 ít hơn so với các khu vực khác trên thế giới, nhưng tác động kinh tế do đại dịch COVID-19 ở Đông Nam Á rất nghiêm trọng.

Theo tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (SCMP), Đông Nam Á đã không phải chịu ảnh hưởng nhiều từ đại dịch COVID-19 như nhiều nơi khác trên thế giới. Mặc dù có khoảng 9% dân số toàn cầu, chỉ chiếm khoảng 2% tổng số ca bệnh và 1% số ca tử vong.

Điều này một phần là nhờ các biện pháp cứng rắn từ ban đầu như hạn chế và phong tỏa đi lại xuyên biên giới mà nhiều quốc gia trong khu vực đã thực hiện, nhưng những biện pháp này cũng tác động đáng kể đến nền kinh tế của họ, đặc biệt là trong quý II/2020.

Các nỗ lực để kiểm soát sự lây lan của COVID-19 cũng rất không đồng đều. Philippines và Indonesia dường như chậm rải trong việc ngăn chặn đại dịch, trong khi đối với các quốc gia khác như Brunei, Malaysia, Singapore và Thái Lan, các đường lây nhiễm của COVID-19 đang được kiểm soát. Trong khi đó Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam có tỷ lệ nhiễm COVID-19 thấp.

Một cơ sở cách ly COVID-19 mới được xây dựng ở Manila, thủ đô của Philippines. Ảnh: EPA.
Một cơ sở cách ly COVID-19 mới được xây dựng ở Manila, thủ đô của Philippines. Ảnh: EPA.

Sự ảnh hưởng kinh tế từ đại dịch COVID-19 là một phần kết quả của các phản ứng khác nhau từ chính phủ. Đặc biệt, các biện pháp quản lý và đóng cửa biên giới đã có tác động làm suy giảm nghiêm trọng đối với nhiều nền kinh tế Đông Nam Á.

Bán lẻ và giải trí đặc biệt bị ảnh hưởng nặng nề ở Myanmar, Malaysia và Philippines, nơi hoạt động giảm sâu từ 72 đến 82%. Các biện pháp giãn cách xã hội cũng đã được thực hiện trong một thời gian tương đối dài ở các nước này.

Nguồn: ISEAS-Yusof Ishak Institute.
Nguồn: ISEAS-Yusof Ishak Institute.

Để giảm bớt tác động của các biện pháp như vậy và khởi đầu cho việc phục hồi kinh tế, hầu hết các quốc gia trong khu vực đều thực hiện các chương trình kích cầu, mặc dù có sự khác biệt đáng kể về quy mô. Xét về tỷ trọng kích cầu trong GDP, Singapore với 26,2%, đã chi tiêu nhiều nhất cho đến thời điểm hiện tại, tiếp theo là Malaysia với 22,1% và Thái Lan với 16%.

Sự khác biệt giữa các quốc gia thậm chí còn rõ ràng hơn khi lượng kích cầu được chia cho quy mô dân số. Singapore một lần nữa dẫn đầu gói chi tiêu 8.819 USD/người, với các quốc gia ở chi tiêu ít hơn đáng kể - Brunei 728 USD/người, Malaysia 683 USD/người và 625 USD/người ở Thái Lan.

  Nguồn: ISEAS-Yusof Ishak Institute.

Nguồn: ISEAS-Yusof Ishak Institute.

Có thể thấy xu hướng chung đối với các quốc gia có nhiều trường hợp tính theo đầu người hơn cũng chi tiêu nhiều hơn, nhưng điều đáng chú ý là tốc độ thực tế của việc triển khai các biện pháp kích cầu tài khóa là rất quan trọng. Ví dụ, Indonesia đã phân bổ ít hơn 35% số tiền dành cho y tế và kích cầu kinh tế vào giữa tháng 9.

Ngoài số tiền chi cho kích cầu, cách thức chi tiêu cũng rất quan trọng. Các chương trình kích cầu thường bao gồm hỗ trợ tài chính trực tiếp và gián tiếp cho các hộ gia đình, cho vay khu vực doanh nghiệp cũng như hạ lãi suất thông qua chính sách tiền tệ.

Hầu hết các quốc gia đã hỗ trợ thu nhập trực tiếp cho các hộ gia đình dưới hình thức chuyển tiền mặt cũng như hoãn nộp thuế thu nhập và các khoản đóng góp an sinh xã hội. Hỗ trợ gián tiếp phổ biến nhất cho các hộ gia đình là trợ cấp cho các hóa đơn điện nước và các khoản vay.

Đối với các doanh nghiệp, việc đóng thuế và đóng góp cho an sinh xã hội đã được hoãn lại ở hầu hết các nước trong khu vực. Các chính phủ cũng đã cung cấp các cơ sở hỗ trợ tài chính để hỗ trợ các doanh nghiệp như thông qua các chương trình cho vay và bảo lãnh, với sự hỗ trợ phù hợp cho các ngành du lịch và lĩnh vực khách sạn.

Chính sách tiền tệ cũng đã được sử dụng rộng rãi để duy trì hoạt động kinh doanh cũng như hỗ trợ sự ổn định của khu vực tài chính. Hầu hết các ngân hàng trung ương trong khu vực đã cắt giảm lãi suất, tiến hành các hoạt động thị trường mở và tạm thời nới lỏng các yêu cầu đối với các ngân hàng và tổ chức tài chính để tăng tính thanh khoản.

Nhiều quốc gia cũng đang tích cực quản lý sự biến động của thị trường tài chính bằng cách giảm gánh nặng nợ của các doanh nghiệp để giảm thiểu các khoản nợ xấu, tạm thời cấm bán khống và miễn phí, cùng các biện pháp khác.

Mặc dù vậy, tác động kinh tế của đại dịch ở Đông Nam Á vẫn rất nặng nề. Ngoại trừ Việt Nam, tất cả các nền kinh tế trong khu vực đều tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước trong quý II.

Một số nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Malaysia, với mức giảm 17,1%; Philippines, với âm 16,5%; Singapore giảm 13,2%; và Thái Lan với mức giảm 12,2%. Những tác động này có thể bởi sự kéo dài thời gian của các biện pháp ngăn chặn và kiểm soát đại dịch đã được thực hiện ở mỗi quốc gia.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

  Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP thực theo phần trăm sử dụng số liệu từ Cơ quan Giám sát Kinh tế ASEAN. Nguồn: ISEAS-Yushok Ishak Institute.

Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP thực theo phần trăm sử dụng số liệu từ Cơ quan Giám sát Kinh tế ASEAN. Nguồn: ISEAS-Yushok Ishak Institute.

Các yếu tố trong nước dẫn đến suy giảm kinh tế bao gồm sự suy giảm tiêu dùng - đặc biệt nghiêm trọng ở Malaysia, Singapore và Philippines - trong khi sự sụt giảm đầu tư cũng xuất hiện như một lực cản nghiêm trọng đối với 3 nền kinh tế này cùng với Indonesia.

Xuất khẩu giảm nói chung đặc biệt gây tổn hại cho các nền kinh tế rất mở như Singapore, Malaysia và Thái Lan, mặc dù các số liệu thống kê thương mại gần đây cho thấy sự phục hồi đáng kể từ tháng 6.

Đối với nhiều nước trong khu vực, sự sụt giảm nhập khẩu đủ lớn để bù đắp cho sự sụt giảm xuất khẩu, dẫn đến đóng góp tích cực chung cho nền kinh tế. Tuy nhiên, xuất khẩu giảm đã làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp.

Các nền kinh tế mở với các khu vực nông nghiệp nhỏ như Malaysia và Thái Lan đã bị ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng vì có ít cơ hội hơn cho người lao động.

Ngoài thất nghiệp, sự suy giảm kinh tế có khả năng làm trầm trọng thêm mức độ nghèo đói. Tại Indonesia, quốc gia đông dân nhất trong khu vực, sự suy giảm kinh tế 3,5% có thể khiến số người nghèo tăng thêm khoảng 19,7 triệu người.

Suy thoái kinh tế có mức độ khác nhau trên khắp Đông Nam Á, chủ yếu là kết quả của sự lựa chọn chính sách giữa ngăn chặn đại dịch và duy trì các hoạt động kinh tế. Hành động cân bằng đầy thách thức này đã bị ảnh hưởng bởi cả sự mở cửa kinh tế và các nguồn lực sẵn có cho mỗi chính phủ.

Việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn và kiểm soát nghiêm ngặt đã có tác động làm giảm đáng kể tiêu dùng trong nước, đặc biệt là ở Malaysia, Singapore và Philippines. Môi trường toàn cầu bất lợi cũng đã ảnh hưởng đến những nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, chẳng hạn như Singapore, Malaysia và Thái Lan. Đây cũng là những quốc gia đã dành nguồn lực đáng kể để kích thích nền kinh tế của mình.

Các quốc gia khác ít phụ thuộc vào thương mại hơn và các nền kinh tế trong nước lớn hơn như Indonesia đã lựa chọn các biện pháp kiểm soát và ngăn chặn ít nghiêm ngặt hơn với hậu quả là tỷ lệ nhiễm COVID-19 tăng nhưng nền kinh tế phát triển mạnh hơn.

  Những người bốc mộ hạ một quan tài trong lễ tang tại một nghĩa trang ở tỉnh Aceh của Indonesia. Anh: AFP.

Những người bốc mộ hạ một quan tài trong lễ tang tại một nghĩa trang ở tỉnh Aceh của Indonesia. Anh: AFP.

Một mối quan tâm đang nổi lên là hậu quả trung và dài hạn của các gói kích cầu dẫn đến thâm hụt tài khóa lớn hơn và tăng nợ chính phủ. Mặc dù cứu người là ưu tiên rõ ràng và phục hồi kinh tế là điều bắt buộc, nhưng bóng ma về gánh nặng nợ nần cao hơn và tăng trưởng ảm đạm trong tương lai - khiến việc trả nợ khó khăn hơn - có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức của các nhà hoạch định chính sách về khả năng kích thích tài khóa hơn nữa.

Thâm hụt ngân sách gia tăng cũng có thể là vấn đề đối với các quốc gia được tài trợ thông qua các dòng vốn ngắn hạn. Bất kỳ thông tin nào cũng có thể gây áp lực lên đồng tiền của họ, dẫn đến nợ nần bằng USD ngày càng trầm trọng hơn. Ví dụ, đồng rupiah của Indonesia đã giảm giá 10% trong tháng 3 khi các nhà đầu tư chuyển danh mục đầu tư của họ sang nơi khác. Đồng tiền chỉ lấy lại được một số điểm sau khi ngân hàng trung ương can thiệp bằng cách mua trái phiếu chính phủ.

Sắp tới, các nước trong khu vực có thể sẽ trải qua những quỹ đạo khác nhau. Số phận kinh tế của các nước phụ thuộc vào thương mại sẽ phụ thuộc vào kết quả hoạt động của nền kinh tế toàn cầu, do đó sẽ phụ thuộc vào sự thành công của việc tìm ra vắc xin.

Đối với những quốc gia khác có thị trường nội địa tương đối lớn hơn và ít phụ thuộc vào thương mại, phần lớn sẽ phụ thuộc vào khả năng kiểm soát đại dịch mà không cần đến các hạn chế nghiêm ngặt.

Về lâu dài, tác động của đại dịch đối với sức khỏe và vốn con người cũng có thể là quan trọng. Các phản ứng chính sách trong các lĩnh vực này sẽ ảnh hưởng đến khả năng của các cá nhân và doanh nghiệp trong việc tạo ra và tận dụng các cơ hội kinh tế trong tương lai.

Do đó, các chính phủ trong khu vực cần phải vượt ra ngoài việc dập tắt đại dịch hiện tại và bắt đầu lập kế hoạch cho tương lai bất chấp những bất ổn sâu sắc ở phía trước.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1160

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

1051

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

42.745.971

CA NHIỄM

1.152.463

CA TỬ VONG

31.564.181

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 394 31 360
Hà Nội 163 0 162
Quảng Nam 102 3 98
Hồ Chí Minh 82 0 78
Bà Rịa - Vũng Tàu 50 0 48
Bạc Liêu 48 0 41
Thái Bình 34 0 31
Ninh Bình 28 0 23
Hải Dương 27 0 25
Khánh Hòa 22 0 18
Đồng Tháp 20 0 9
Vĩnh Phúc 19 0 19
Thanh Hóa 18 0 18
Bắc Giang 18 0 10
Quảng Ninh 16 0 11
Nam Định 12 0 8
Bình Thuận 9 0 9
Hưng Yên 8 0 6
Tây Ninh 7 0 7
Cần Thơ 7 0 5
Quảng Trị 7 1 5
Quảng Ngãi 7 0 7
Bình Dương 6 0 1
Hoà Bình 6 0 6
Hà Nam 5 0 5
Trà Vinh 5 0 5
Lạng Sơn 4 0 4
Đồng Nai 4 0 3
Hà Tĩnh 4 0 4
Bắc Ninh 3 0 1
Hải Phòng 3 0 3
Thanh Hoá 3 0 2
Phú Thọ 3 0 3
Đắk Lắk 3 0 3
Ninh Thuận 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thái Nguyên 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hà Giang 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 8.770.951 229.570 5.705.323
India 7.860.149 118.477 7.068.241
Brazil 5.358.498 156.565 4.797.872
Russia 1.497.167 25.821 1.130.818
Spain 1.110.372 34.752 0
Argentina 1.069.368 28.338 866.695
France 1.041.075 34.508 109.486
Colombia 998.942 29.802 901.652
Peru 883.116 34.033 800.480
Mexico 880.775 88.312 641.075
United Kingdom 854.010 44.745 0
South Africa 712.412 18.891 643.523
Iran 562.705 32.320 450.891
Italy 504.509 37.210 264.117
Chile 500.542 13.892 476.576
Iraq 449.153 10.568 378.209
Germany 423.666 10.100 314.100
Bangladesh 397.507 5.780 313.563
Indonesia 385.980 13.205 309.219
Philippines 367.819 6.934 313.112
Turkey 359.784 9.727 313.093
Saudi Arabia 344.552 5.281 330.995
Ukraine 337.410 6.289 139.755
Pakistan 327.063 6.727 310.101
Israel 309.374 2.366 291.130
Belgium 287.700 10.658 22.517
Netherlands 281.052 7.019 0
Czech Republic 246.022 2.047 91.922
Poland 241.946 4.351 109.344
Canada 213.727 9.920 179.537
Romania 205.793 6.318 147.932
Morocco 194.461 3.255 160.372
Ecuador 159.614 12.542 134.187
Nepal 155.233 842 108.334
Bolivia 140.612 8.608 107.633
Qatar 130.965 229 127.868
Panama 127.866 2.622 103.985
Dominican Republic 124.018 2.220 102.353
United Arab Emirates 123.764 475 116.894
Kuwait 120.927 744 112.110
Portugal 116.109 2.297 67.842
Oman 111.837 1.147 97.949
Sweden 110.594 5.933 0
Kazakhstan 110.250 1.796 105.566
Egypt 106.230 6.176 98.713
Guatemala 104.632 3.609 93.880
Switzerland 103.653 2.071 55.800
Costa Rica 101.826 1.265 61.662
Japan 95.138 1.694 88.245
Ethiopia 92.229 1.400 46.118
Belarus 91.978 953 82.670
Honduras 91.882 2.612 37.697
Venezuela 88.718 764 82.899
China 85.775 4.634 80.876
Bahrain 79.574 312 76.143
Austria 78.029 965 56.791
Armenia 75.523 1.157 50.701
Moldova 71.089 1.669 51.719
Lebanon 69.906 562 33.438
Uzbekistan 64.923 544 62.033
Nigeria 61.882 1.129 57.190
Paraguay 58.259 1.278 38.797
Singapore 57.965 28 57.844
Hungary 56.098 1.390 16.007
Algeria 55.880 1.907 38.932
Ireland 55.261 1.878 23.364
Kyrgyzstan 55.144 1.130 47.337
Libya 54.374 790 29.965
Jordan 50.750 540 7.508
Palestine 49.989 443 43.232
Azerbaijan 49.013 664 41.051
Tunisia 48.799 819 5.032
Kenya 48.790 896 33.876
Ghana 47.690 316 46.887
Myanmar 43.788 1.066 23.708
Slovakia 40.801 159 9.920
Afghanistan 40.768 1.511 34.023
Bosnia Herzegovina 39.758 1.075 26.368
Denmark 39.411 700 31.701
Serbia 38.872 789 31.536
Bulgaria 36.519 1.077 18.102
Croatia 33.959 429 23.785
El Salvador 32.585 944 28.258
Greece 29.992 564 9.989
Australia 27.499 905 25.181
Georgia 26.503 193 10.163
Macedonia 26.394 897 18.430
South Korea 25.775 457 23.834
Malaysia 25.742 221 16.555
Cameroon 21.570 425 20.117
Slovenia 21.274 235 8.018
Ivory Coast 20.405 121 20.100
Albania 18.858 473 10.548
Norway 17.670 279 11.863
Madagascar 16.810 238 16.215
Montenegro 16.629 263 12.601
Zambia 16.095 346 15.179
Senegal 15.543 321 14.161
Finland 14.652 353 9.800
Sudan 13.733 836 6.764
Luxembourg 13.713 144 9.085
Namibia 12.501 133 10.748
Mozambique 11.748 82 9.234
Guinea 11.635 71 10.474
Maldives 11.391 37 10.428
Uganda 11.297 99 7.281
Congo [DRC] 11.122 304 10.379
Tajikistan 10.736 81 9.836
French Guiana 10.351 69 9.995
Lithuania 9.578 129 4.015
Haiti 9.015 231 7.361
Gabon 8.919 54 8.512
Angola 8.829 265 3.384
Jamaica 8.670 186 4.209
Zimbabwe 8.257 236 7.771
Cape Verde 8.198 94 7.034
Mauritania 7.662 163 7.374
Sri Lanka 7.354 15 3.714
Guadeloupe 7.329 115 2.199
Cuba 6.534 128 5.927
Bahamas 6.268 130 3.795
Botswana 5.923 21 927
Malawi 5.885 183 5.287
Swaziland 5.831 116 5.485
French Polynesia 5.797 20 3.623
Djibouti 5.528 61 5.393
Trinidad and Tobago 5.487 104 3.945
Nicaragua 5.434 155 4.225
Malta 5.373 50 3.478
Syria 5.319 264 1.692
Hong Kong 5.290 105 5.041
Democratic Republic Congo Brazzaville 5.156 92 3.887
Suriname 5.155 109 5.010
Réunion 5.149 20 4.630
Equatorial Guinea 5.079 83 4.962
Rwanda 5.052 34 4.806
Central African Republic 4.862 62 1.924
Latvia 4.467 54 1.357
Aruba 4.401 36 4.160
Iceland 4.394 11 3.302
Estonia 4.351 73 3.441
Mayotte 4.276 44 2.964
Andorra 4.038 69 2.729
Guyana 3.960 117 2.923
Somalia 3.897 102 3.166
Thailand 3.731 59 3.529
Gambia 3.659 119 2.660
Mali 3.444 132 2.620
Cyprus 3.314 25 1.882
Belize 3.050 46 1.872
South Sudan 2.876 56 1.290
Uruguay 2.759 53 2.241
Benin 2.557 41 2.330
Burkina Faso 2.433 65 1.996
Guinea-Bissau 2.403 41 1.818
Sierra Leone 2.343 74 1.782
Martinique 2.257 24 98
Togo 2.162 52 1.586
Yemen 2.060 599 1.354
Lesotho 1.940 43 970
New Zealand 1.934 25 1.835
Chad 1.423 96 1.234
Liberia 1.393 82 1.278
Niger 1.215 69 1.128
Vietnam 1.160 35 1.051
Sao Tome and Principe 938 15 898
San Marino 819 42 716
Curaçao 818 1 534
Channel Islands 795 48 659
Sint Maarten 776 22 702
Diamond Princess 712 13 659
Turks and Caicos 699 6 689
Gibraltar 660 0 507
Papua New Guinea 583 7 545
Burundi 555 1 497
Taiwan 550 7 497
Saint Martin 538 8 422
Comoros 517 7 494
Tanzania 509 21 183
Faeroe Islands 490 0 473
Eritrea 461 0 405
Mauritius 435 10 386
Isle of Man 348 24 321
Liechtenstein 340 1 170
Mongolia 337 0 312
Bhutan 336 0 306
Monaco 295 2 241
Cambodia 287 0 283
Cayman Islands 239 1 215
Barbados 226 7 207
Bermuda 190 9 175
Seychelles 153 0 149
Caribbean Netherlands 150 3 121
Brunei 148 3 143
Antigua and Barbuda 122 3 107
St. Barth 77 0 66
Saint Vincent and the Grenadines 73 0 64
British Virgin Islands 71 1 70
Saint Lucia 52 0 27
Macau 46 0 46
Dominica 37 0 29
Fiji 33 2 30
Timor-Leste 29 0 28
New Caledonia 27 0 27
Vatican City 27 0 15
Grenada 27 0 24
Laos 24 0 22
Saint Kitts and Nevis 19 0 19
Greenland 17 0 16
Saint Pierre Miquelon 16 0 12
Montserrat 13 1 12
Falkland Islands 13 0 13
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Solomon Islands 4 0 3
Anguilla 3 0 3
Wallis and Futuna 1 0 1
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/
Từ khóa:
id news:213628