Giá vàng Mua Bán
Vàng SJC 41.44 41.74
Vàng nữ trang 24 K 40.92 41.72
Tỷ giá VND
EUR Euro 26.513,09
JPY Yên Nhật 214,51
USD Đô Mỹ 23.265,00
Chứng khoán
VNIndex 987.19 3.63 0.37%
HNX 104.49 0.48 0.46%
UPCOM 56.6 0.14 0.24%

Nguồn cung hạn chế, giá heo hơi miền Nam sẽ tăng nhẹ

BẠCH TRANG 15:56 | 20/06/2019

Giá heo hơi tại các tỉnh phía Nam dù chưa tăng nhưng theo các đầu mối, sau nhiều ngày người nuôi đẩy mạnh bán, hiện tại nguồn heo đã giảm khá nhiều.

Giá heo hơi tại các tỉnh Tây Nam bộ hiện vẫn duy trì ở mức thấp, bình quân 33.000-35.000 đồng/kg. Vẫn có nhiều vùng ít chịu tác động bởi dịch tả heo châu Phi được mức giá cao hơn, lên đến 37.000-40.000 đồng/kg.

Giá heo hơi chưa tăng nhưng giao dịch đang chuyển biến tích cực.
Giá heo hơi chưa tăng nhưng giao dịch đang chuyển biến tích cực.

Diễn biến đáng chú ý là lượng heo thịt về các điểm trung chuyển bắt đầu có xu hướng giảm mạnh, sau khi người dân đã dồn ra bán nhiều trong những ngày vừa qua. Dù giá chưa tăng nhưng giao dịch sôi động và xu hướng là có lợi cho người bán.

Tại các tỉnh Tây Nam bộ, giá heo có phần nhỉnh hơn. Bình quân 35.000-37.000 đồng/kg. Heo thịt về các chợ đầu mối của TP.HCM vẫn tiêu thụ tốt nên không ảnh hưởng nhiều đến diễn biến giá.

Giá heo hơi tại miền Bắc nhiều nơi vẫn có xu hương giảm. Nguyên nhận do dịch bênh, trong đó nhiều khu vực vẫn chịu tác động của dịch tả heo châu Phi.

Theo một số đầu mối kinh doanh heo thịt, những ngày gần đây lượng heo từ các vùng như miền Trung và miền Nam được chuyển ra nhiều hơn. Chính nguồn heo này khiến giá heo hơi tại hầu khắp các tỉnh ổn định và có xu hướng giảm nhẹ. Giá heo hơi tại các tỉnh hiện phổ biến còn 36.000- 38.000/kg, heo tại những vùng có dịch thấp hơn, chỉ 32.000-34.000 đồng/kg.

BẢNG GIÁ HEO HƠI NGÀY 1206/2019
Tỉnh/thành Khoảng giá (đồng/kg Tăng (+)/giảm (-) đồng/kg
Hà Nội 35.000-39.000 -1.000
Hải Dương 35.000-43.000 Giữ nguyên
Thái Bình 35.000-40.000 Giữ nguyên
Bắc Ninh 37.000-39.000 -1.000
Hà Nam 35.000-39.000 -1.000
Hưng Yên 35.000-40.000 Giữ nguyên
Nam Định 36.000-40.000 -1.000
Ninh Bình 35.000-41.000 -1.000
Hải Phòng 38.000-44.000 -1.000
Quảng Ninh 39.000-45.000 Giữ nguyên
Cao Bằng 39.000-42.000 Giữ nguyên
Lào Cai 38.000-41.000 Giữ nguyên
Yên Bái 36.000-40.000 Giữ nguyên
Bắc Kạn 32.000-37.000 +1.000
Phú Thọ 35.000-38.000 Giữ nguyên
Thái Nguyên 37.000-39.000 Giữ nguyên
Bắc Giang 36.000-40.000 -1.000
Vĩnh Phúc 36.000-38.000 Giữ nguyên
Lạng Sơn 38.000-41.000 -1.000
Hòa Bình 37.000-40.000 Giữ nguyên
Sơn La 38.000-42.000 Giữ nguyên
Lai Châu 40.000-43.000 Giữ nguyên
Thanh Hóa 36.000-38.000 Giữ nguyên
Nghệ An 35.000-40.000 Giữ nguyên
Hà Tĩnh 37.000-40.000 Giữ nguyên
Quảng Bình 36.000-40.000 -1.000
Quảng Trị 38.000-41.000 Giữ nguyên
TT-Huế 39.000-41.000 Giữ nguyên
Quảng Nam 38.000-41.000 Giữ nguyên
Quảng Ngãi 38.000-40.000 -1.000
Bình Định 37.000-39.000 Giữ nguyên
Phú Yên 38.000-40.000 Giữ nguyên
Khánh Hòa 37.000-40.000 Giữ nguyên
Bình Thuận 36.000-39.000 Giữ nguyên
Đắk Lắk 38.000-40.000 -1.000
Đắk Nông 37.000-40.000 Giữ nguyên
Lâm Đồng 34.000-40.000 Giữ nguyên
Gia Lai 37.000-40.000 Giữ nguyên
Đồng Nai 35.000-39.000 Giữ nguyên
TP.HCM 35.000-38.000 Giữ nguyên
Bình Dương 34.000-37.000 Giữ nguyên
Bình Phước 36.000-39.000 Giữ nguyên
BR-VT 35.000-38.000 Giữ nguyên
Long An 35.000-38.000 Giữ nguyên
Tiền Giang 36.000-38.000 Giữ nguyên
Bến Tre 36.000-38.000 Giữ nguyên
Trà Vinh 36.000-38.000 Giữ nguyên
Cần Thơ 37.000-41.000 Giữ nguyên
Kiên Giang 36.000-40.000 Giữ nguyên
Cà Mau 36.000-40.000 Giữ nguyên
Vĩnh Long 37.000-39.000 Giữ nguyên
Đồng Tháp 39.000-41.000 Giữ nguyên
Tây Ninh 36.000-37.000 Giữ nguyên
Từ khóa:
id news:177326