Advertisement

Nhận bản tin

Liên hệ quảng cáo

Email: banbientap@baocungcau.net

Hotline: 0917 267 237

icon logo

Quên mật khẩu?

Có tài khoản? Đăng nhập

Vui lòng nhập mật truy cập tài khoản mới khẩu

Thay đổi email khác
icon

Nếu dịch COVID-19 lan rộng, tương lai Vietnam Airlines sẽ về đâu?

Chính sách - Hạ tầng

02/12/2020 13:25

Vừa mới được dự báo mất 3 năm để phục hồi như trước, ngành hàng không Việt Nam lại tiếp tục chuẩn bị điêu đứng nếu dịch bệnh lan rộng hơn nữa.

Việc BN1342 là một tiếp viên của Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) bị nhiễm COVID-19 và lây cho BN1347 khiến dịch bệnh lan trong cộng đồng, một lần nữa đặt ngành hàng không vào thế khó.

Đặc biệt, sau gần 3 tháng mở dần đường bay thương mại quốc tế, Thủ tướng đã ra quyết định tạm dừng các chuyến bay thương mại từ nước ngoài về Việt Nam, chỉ thực hiện các chuyến bay giải cứu đối với các trường hợp khó khăn, thực sự cần thiết.

Lỗ lũy kế hơn 10.000 tỷ đồng chỉ sau 9 tháng

Theo báo cáo tài chính mới nhất, tổng doanh thu và thu nhập khác của công ty mẹ - Tổng Công ty Hàng không Việt Nam, trong quý III/2020 giảm 66,33% so với quý III/2019, giảm hơn 12.713 tỷ đồng.

Trong đó, doanh thu cung cấp dịch vụ giảm mạnh tới 12.536 tỷ đồng (giảm 67,2%). Dù đã được cất cánh trở lại nhưng doanh thu khách nội địa vẫn giảm 34,8% so với cùng kỳ. Doanh thu khách quốc tế tiếp tục giảm đến 95,4%. Doanh thu thuê chuyến giảm 53,2%.

Mức giảm doanh thu của Vietnam Airlines mạnh hơn mức giảm của chi phí (46,4%) dẫn đến lợi nhuận sau thuế giảm mạnh đến 602% ở công ty mẹ.

Doanh thu khách nội địa của Vietnam Airlines vẫn giảm 34,8% so với cùng kỳ, khách quốc tế tiếp tục giảm đến 95,4%. Ảnh: Fili
Doanh thu khách nội địa của Vietnam Airlines vẫn giảm 34,8% so với cùng kỳ, khách quốc tế tiếp tục giảm đến 95,4%. Ảnh: Fili

Còn doanh thu vận tải hàng không hợp nhất trong quý là 6.011 tỷ đồng, tăng 1.092 tỷ đồng so với quý liền trước. Tuy nhiên, doanh thu vận tải hàng không trong quý này đóng góp 79% tổng doanh thu, trong khi ở quý trước, con số này lên tới 82%.

Tính chung tổng doanh thu hợp nhất Vietnam Airlines, gồm 3 hãng hàng không Vietnam Airlines, Pacific Airlines, VASCO cùng các công ty con trong lĩnh vực phụ trợ, thì con số được ghi nhận trong quý III/2020 là 7.602 tỷ đồng, giảm 70% so với cùng kỳ năm trước.

Trừ đi chi phí thường xuyên, lợi nhuận sau thuế của Vietnam Airlines âm 3.997 tỷ đồng. Mức lỗ này không được cải thiện gì đáng kể so với khoản lỗ quý lI (4.031 tỷ đồng) dù doanh thu hồi phục hơn 1.600 tỷ đồng.

Lũy kế 9 tháng năm 2020, Vietnam Airlines có được 32.411 tỷ đồng doanh thu thuần (giảm 57% so với cùng kỳ) và lỗ tới 10.676 tỷ đồng (giảm 525%). Đây là mức doanh thu 9 tháng thấp nhất mà hãng hàng không này ghi nhận được trong gần một thập niên trở lại đây. Khoản lỗ trên cũng “cuốn phăng” tổng lợi nhuận của Vietnam Airlines 5 năm trước (từ năm 2015 đến năm 2019, hãng này lãi luỹ kế 10.380 tỷ đồng).

Đến cuối tháng 9/2020, vốn chủ sở hữu của công ty mẹ giảm gần gấp đôi chỉ sau 3 tháng. Tổng tài sản của Vietnam Airlines đến cuối tháng 9 giảm hơn 18% so với đầu năm, còn 62.370 tỷ đồng.

Vốn chủ sở hữu giảm cũng khiến hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu của Vietnam Airlines tăng từ 3,1 hồi đầu năm lên hơn 8,4 lần hiện tại. Vietnam Airlines có hơn 35.000 tỷ đồng vay và nợ thuê tài chính, tăng 9% so với đầu năm.

Phá sản kịch bản phục hồi sau 3 năm?

Trong Hội thảo quốc gia Vượt qua khủng hoảng phát triển bền vững ngành hàng không Việt Nam vào cuối tháng 11 vừa qua, ông Phạm Văn Hảo, Phó Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam (Bộ GTVT) cho biết, theo đánh giá của Tổ chức Hàng không dân dụng Quốc tế (ICAO) sẽ có 2 kịch bản phát triển cho ngành hàng không.

Kịch bản thứ nhất, hàng không sẽ phát triển theo mô hình chữ V sụt giảm theo đáy và phát triển nhanh trở lại. Còn kịch bản thứ 2, hàng không sẽ phát triển mô hình chữ U quy luật sẽ giảm xuống đáy và kéo dài từ 3-5 tháng đi kèm suy giảm kinh tế, dự báo thị trường hàng không sụt giảm 48-71% tùy theo diễn biến dịch bệnh.

Thời điểm đó, ông Hảo đánh giá hàng không Việt Nam sẽ theo kịch bản thứ nhất. Đáng nói, dù là kịch bản lạc quan nhưng thị trường hàng không cũng phải “mất tới 3 năm mới phục hồi như năm 2019”.

Trong kịch bản lạc quan nhất, ngành hàng không cũng phải mất đến 3 năm để phục hồi như năm 2019. Ảnh: Finance Times
Trong kịch bản lạc quan nhất, ngành hàng không cũng phải mất đến 3 năm để phục hồi như năm 2019. Ảnh: Finance Times

Tuy nhiên, với tình hình dịch bệnh hiện tại, rất có thể kịch bản phục hồi như trên sẽ bị phá sản. Trước đó, ông Võ Huy Cường, Phó Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam, nhận định, khi các rào cản nhập cảnh, cách ly được xoá bỏ, khi đó ngành hàng không mới được hoạt động bình thường.

Riêng với Vietnam Airlines, đây sẽ là một kịch bản cực kỳ xấu. Hồi đầu tháng 11, ông Trịnh Hồng Quang, Phó tổng giám đốc Vietnam Airlines cho rằng, hãng hàng không quốc gia sẽ chưa thể phục hồi đến hết tháng 10/2021 sau 2 đợt bùng phát dịch. Đồng thời, ông Quang lo ngại: "Năm 2021 sẽ tiếp tục khó khăn khi thị trường quốc tế chưa phục hồi, trong khi doanh thu thị trường quốc tế là chủ yếu đối với Vietnam Airlines”.

Hãng hàng không này xác định, nếu thị trường hàng không quốc tế không phục hồi được thì bản thân hãng bay này vẫn tiếp tục gặp khó khăn. Dự báo trong năm 2021, Vietnam Airlines vẫn lỗ hàng chục tỷ đồng mỗi ngày, mức lỗ sẽ ngang năm 2020. Nguyên nhân là do thị trường nội địa có phục hồi nhưng giá vé vẫn thấp quá, thậm chí dưới 50% mức giá năm 2019 do các hãng đều dồn cả vào thị trường nội địa, giá cạnh tranh nhau từng đồng.

Năm tới, Vietnam Airlines vẫn dự kiến lỗ chẳng kém năm nay. Ảnh: Getty
Năm tới, Vietnam Airlines vẫn dự kiến lỗ chẳng kém năm nay. Ảnh: Getty

Như vậy, nếu thị trường nội địa tiếp tục bị đóng băng, cánh cửa phục hồi của Vietnam Airlines sẽ ngày càng hẹp. Một lần nữa, hãng hàng không quốc gia lại bị kẹp vào thế khó.

Vietjet AirBamboo Airways thì sao?

Không chỉ Vietnam Airlines, nếu tình hình dịch bệnh tiếp tục diễn biến xấu. Các hãng hàng không tư nhân chắc chắn khó “né” được tình trạng khủng hoảng.

Mới đây, ông Nguyễn Khắc Hải, Phó tổng giám đốc Bamboo Airways cho biết, đại dịch COVID-19 đã và đang ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động khai thác của các hãng hàng không trong và ngoài nước. Tại lúc cao điểm đại dịch, đội tàu bay của hãng hàng không non trẻ đã phải ngừng hoạt động từ 80% - 90%.

Không tiết lộ chi tiết về kết quả kinh doanh năm 2020, nhưng theo đại diện Bamboo Airways, về mặt tài chính, ngoài việc mất thêm các chi phí cho hoạt động cách ly, phòng chống dịch, hãng này đã và đang phải chịu thiệt hại nặng nề về doanh thu do nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa tại nội địa cũng như quốc tế sụt giảm rất sâu.

Mảng hàng không, khách sạn, du lịch của FLC lỗ thuần 2.907 tỷ đồng. Ảnh: Bamboo Airways
Mảng hàng không, khách sạn, du lịch của FLC lỗ thuần 2.907 tỷ đồng. Ảnh: Bamboo Airways

Theo báo cáo tài chính quý III/2020 của Tập đoàn FLC, công ty mẹ của Bamboo Airways, nhóm hàng không, khách sạn, du lịch đem về cho tập đoàn 3.648 tỷ đồng doanh thu nhưng lại “ngốn” tới 6.555 tỷ đồng giá vốn. Như vậy, mảng dịch vụ của FLC lỗ thuần 2.907 tỷ đồng. Còn trong báo cáo tài chính riêng đã soát xét bán niên năm 2020, FLC cũng phải trích lập dự phòng 1.145 tỷ đồng cho khoản góp vốn vào Bamboo Airways.

Về phía Vietjet Air, Phó tổng giám đốc Hồ Ngọc Yến Phương, cho biết, hãng này đã lỗ 2.400 tỷ đồng trong 9 tháng qua và số nợ lên đến 10.000 tỷ đồng dù đã bán hay chuyển nhượng tài sản đã tích lũy trong nhiều năm. Do tác động của dịch Covid-19, đây là lần đầu tiên Vietjet Air có những quý kinh doanh lỗ kể từ khi niêm yết trên sàn chứng khoán.

Luỹ kế 9 tháng đầu năm, Vietjet Air mới hoàn thành được 38% chỉ tiêu về doanh thu. Còn với lợi nhuận cho cả năm, hãng bay của tỷ phú Nguyễn Thị Phương Thảo rất có thể phải chịu cảnh phá sản về “mơ ước” hoà vốn.

Theo Planespotters, đội bay 73 chiếc máy bay thân hẹp của Vietjet Air hiện chỉ có 51 chiếc hoạt động khai thác, 22 chiếc phải "nằm sân" vì thị trường bay quốc tế chưa mở cửa trở lại. Hãng cũng không nhận thêm máy bay mới từ nhà sản xuất trong năm 2020 và chủ động biên chế 2 chiếc A320 cho Thai Vietjet Air để linh hoạt khai thác thêm thị trường hàng không nội địa Thái Lan trong bối cảnh thị trường trong nước bão hòa.

Theo thông tin chúng tôi tìm hiểu, chính Vietnam Airlines đã đề xuất thành lập khu cách ly riêng. Một bài viết trên trang truyền thông của hãng bay này vào cuối tháng 6/2020 nêu rõ: “Nhằm hỗ trợ công tác tổ chức cách ly tại Hà Nội, TP.HCM và các vùng lân cận, Vietnam Airlines đã chủ động đầu tư, trang bị cơ sở hạ tầng để thành lập 1 trung tâm cách ly tại Hà Nội và 2 trung tâm cách ly tại TP.HCM”.

Hãng này tự khẳng định, các yêu cầu về phòng cách ly riêng biệt, vật dụng, quy trình khử khuẩn, an toàn an ninh, cách ly… đều đáp ứng tiêu chuẩn, hướng dẫn của Ban chỉ đạo quốc gia về phòng chống dịch COVID-19 và CDC Hà Nội, TP.HCM.

Vietnam Airlines công bố rằng, hãng đã “xây dựng quy trình, quy định chi tiết và hướng dẫn, giám sát đến từng cá nhân tại khu cách ly. Đồng thời, triển khai sử dụng camera giám sát 24/7, huấn luyện thành thục và trang bị phương tiện bảo hộ y tế cho đội ngũ bảo vệ, vệ sinh, phục vụ, thực hiện công tác khử khuẩn… để hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp, phòng chống dịch an toàn”.

 Khu vực trung tâm cách ly y tế của Vietnam Airlines tại TP.HCM. Ảnh: VNA
 Khu vực trung tâm cách ly y tế của Vietnam Airlines tại TP.HCM. Ảnh: VNA

Trong cuộc họp báo tối 1/12 vừa qua, ông Nguyễn Trí Dũng, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TP.HCM cho biết: “Bộ Giao thông Vận tải thời gian tới được giao sẽ xem xét trách nhiệm của Vietnam Airlines”. Còn ông Nguyễn Tấn Bỉnh, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM, nhấn mạnh: “Trong thời gian cách ly tập trung 4 ngày, BN1342 (tiếp viên hàng không - PV) ở khu này lại đi qua khu kia. Người này vi phạm nghiêm trọng quy định ở khu cách ly. Đây cũng là sự lỏng lẻo trong quản lý, là vi phạm của Vietnam Airlines”.

Tuy nhiên, trả lời trên Tri Thức Trực Tuyến, ông Đặng Anh Tuấn, Trưởng ban truyền thông Vietnam Airlines, cho rằng, hiện chưa đủ căn cứ để kết luận BN1342 nhiễm bệnh do lây chéo trong khu cách ly của hãng. Ông dẫn chứng rằng, một tiếp viên khác ở cùng phòng với bệnh nhân này nhưng không bị nhiễm.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1405

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

1252

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

73.809.741

CA NHIỄM

1.641.741

CA TỬ VONG

51.819.551

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 412 31 365
Hà Nội 174 0 167
Hồ Chí Minh 144 0 123
Quảng Nam 107 3 101
Bà Rịa - Vũng Tàu 69 0 65
Khánh Hòa 64 0 29
Bạc Liêu 50 0 48
Thái Bình 38 0 35
Hải Dương 32 0 29
Ninh Bình 32 0 28
Đồng Tháp 24 0 21
Hưng Yên 23 0 22
Thanh Hóa 21 0 19
Quảng Ninh 20 0 20
Bắc Giang 20 0 20
Hoà Bình 19 0 19
Vĩnh Phúc 19 0 19
Nam Định 15 0 15
Bình Dương 12 0 12
Cần Thơ 10 0 10
Bình Thuận 9 0 9
Bắc Ninh 8 0 8
Đồng Nai 7 0 4
Quảng Ngãi 7 0 7
Hà Nam 7 0 5
Quảng Trị 7 1 6
Tây Ninh 7 0 7
Trà Vinh 5 0 5
Lạng Sơn 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 4
Hải Phòng 3 0 3
Ninh Thuận 3 0 2
Thanh Hoá 3 0 2
Phú Thọ 3 0 3
Đắk Lắk 3 0 3
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thái Nguyên 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hà Giang 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 17.143.779 311.068 10.007.853
India 9.932.908 144.130 9.456.449
Brazil 6.974.258 182.854 6.067.862
Russia 2.707.945 47.968 2.149.610
France 2.391.447 59.072 179.087
Turkey 1.898.447 16.881 1.661.191
United Kingdom 1.888.116 64.908 0
Italy 1.870.576 65.857 1.137.416
Spain 1.771.488 48.401 0
Argentina 1.510.203 41.204 1.344.300
Colombia 1.444.646 39.356 1.328.430
Germany 1.378.518 23.692 1.003.300
Mexico 1.267.202 115.099 938.089
Poland 1.147.446 23.309 879.748
Iran 1.123.474 52.670 833.276
Peru 987.675 36.817 922.314
Ukraine 909.082 15.480 522.868
South Africa 873.679 23.661 764.977
Indonesia 629.429 19.111 516.656
Netherlands 628.577 10.168 0
Belgium 611.422 18.178 41.973
Czech Republic 586.251 9.743 511.798
Iraq 577.363 12.614 511.639
Chile 575.329 15.949 548.190
Romania 565.758 13.698 465.050
Bangladesh 494.209 7.129 426.729
Canada 475.214 13.659 385.975
Philippines 451.839 8.812 418.867
Pakistan 445.977 9.010 388.598
Morocco 403.619 6.711 362.911
Switzerland 388.828 6.266 311.500
Israel 360.630 3.014 338.784
Saudi Arabia 360.155 6.069 350.993
Portugal 353.576 5.733 280.038
Sweden 341.029 7.667 0
Austria 327.679 4.648 287.750
Hungary 285.763 7.237 83.115
Serbia 277.248 2.433 31.536
Jordan 265.024 3.437 226.245
Nepal 250.180 1.730 238.569
Ecuador 202.356 13.896 177.951
Panama 196.987 3.411 164.855
Georgia 194.900 1.883 164.786
United Arab Emirates 187.267 622 165.023
Bulgaria 184.287 6.005 87.935
Azerbaijan 183.259 2.007 119.005
Japan 181.870 2.643 153.519
Croatia 179.718 2.778 155.079
Belarus 164.059 1.282 141.443
Dominican Republic 155.797 2.367 121.323
Costa Rica 154.096 1.956 121.031
Armenia 149.120 2.529 127.452
Lebanon 148.877 1.223 104.207
Bolivia 147.716 9.026 126.720
Kuwait 146.710 913 142.599
Kazakhstan 143.735 2.147 128.218
Qatar 141.272 241 138.919
Slovakia 135.523 1.251 100.303
Guatemala 130.082 4.476 118.793
Moldova 128.656 2.625 111.314
Oman 126.719 1.475 118.505
Greece 126.372 3.785 9.989
Egypt 122.609 6.966 105.450
Ethiopia 117.542 1.813 96.307
Denmark 116.087 961 82.099
Honduras 114.943 3.001 52.392
Palestine 113.409 1.023 88.967
Tunisia 113.241 3.956 86.801
Myanmar 110.667 2.319 89.418
Venezuela 108.480 965 103.271
Bosnia Herzegovina 102.330 3.457 67.649
Slovenia 98.281 2.149 75.017
Lithuania 96.452 863 41.665
Paraguay 95.353 1.991 67.953
Algeria 93.065 2.623 61.307
Kenya 92.459 1.604 73.979
Libya 92.017 1.319 62.144
Bahrain 89.444 348 87.490
China 86.770 4.634 81.821
Malaysia 86.618 422 71.681
Kyrgyzstan 78.151 1.317 71.270
Ireland 76.776 2.134 23.364
Uzbekistan 75.396 612 72.661
Macedonia 74.732 2.169 50.852
Nigeria 74.132 1.200 66.494
Singapore 58.341 29 58.233
Ghana 53.270 327 51.965
Albania 50.000 1.028 25.876
Afghanistan 49.703 2.001 38.500
South Korea 45.442 612 32.947
Luxembourg 42.250 418 33.486
Montenegro 42.148 597 32.097
El Salvador 42.132 1.212 38.260
Norway 41.852 395 34.782
Sri Lanka 34.121 154 24.867
Finland 31.459 466 20.000
Uganda 28.168 225 10.005
Australia 28.056 908 25.690
Latvia 26.472 357 17.477
Cameroon 25.359 445 23.851
Sudan 21.864 1.372 12.667
Ivory Coast 21.775 133 21.335
Estonia 18.682 157 11.669
Zambia 18.428 368 17.487
Madagascar 17.587 259 16.992
Senegal 17.216 350 16.243
Mozambique 17.042 144 15.117
Namibia 16.913 164 14.981
Angola 16.362 372 8.990
French Polynesia 15.870 97 4.842
Cyprus 15.789 84 2.057
Congo [DRC] 14.597 358 12.773
Guinea 13.457 80 12.713
Maldives 13.392 48 12.760
Botswana 12.873 38 10.456
Tajikistan 12.777 88 12.212
French Guiana 11.906 71 9.995
Jamaica 11.875 276 8.212
Zimbabwe 11.522 310 9.599
Mauritania 11.431 236 8.248
Cape Verde 11.395 110 11.055
Malta 11.303 177 9.420
Uruguay 10.418 98 6.895
Haiti 9.597 234 8.280
Cuba 9.588 137 8.592
Belize 9.511 211 4.514
Syria 9.452 543 4.494
Gabon 9.351 63 9.204
Réunion 8.534 42 8.037
Guadeloupe 8.524 154 2.242
Hong Kong 7.722 123 6.345
Bahamas 7.698 164 6.081
Andorra 7.382 79 6.706
Swaziland 6.912 132 6.476
Trinidad and Tobago 6.900 123 6.204
Rwanda 6.832 57 6.036
Democratic Republic Congo Brazzaville 6.200 100 4.988
Malawi 6.080 187 5.659
Guyana 5.973 156 5.144
Nicaragua 5.887 162 4.225
Mali 5.878 205 3.697
Djibouti 5.749 61 5.628
Mayotte 5.616 53 2.964
Martinique 5.575 42 98
Iceland 5.571 28 5.401
Suriname 5.381 117 5.231
Equatorial Guinea 5.195 85 5.061
Aruba 5.079 46 4.911
Central African Republic 4.936 63 1.924
Somalia 4.579 121 3.529
Burkina Faso 4.300 73 2.940
Thailand 4.261 60 3.977
Gambia 3.785 123 3.653
Curaçao 3.699 11 1.889
Togo 3.295 66 2.821
South Sudan 3.222 62 3.043
Benin 3.090 44 2.972
Sierra Leone 2.451 75 1.853
Guinea-Bissau 2.447 44 2.378
Niger 2.361 82 1.329
Lesotho 2.307 44 1.398
Channel Islands 2.192 48 1.339
New Zealand 2.100 25 2.032
Yemen 2.085 606 1.384
San Marino 1.982 52 1.685
Chad 1.784 102 1.611
Liberia 1.676 83 1.358
Liechtenstein 1.579 21 1.366
Vietnam 1.405 35 1.252
Sint Maarten 1.269 26 1.111
Gibraltar 1.104 6 1.040
Sao Tome and Principe 1.010 17 952
Mongolia 918 0 384
Saint Martin 801 12 675
Turks and Caicos 771 6 741
Taiwan 742 7 611
Burundi 735 1 640
Papua New Guinea 729 8 601
Diamond Princess 712 13 699
Eritrea 711 0 564
Monaco 678 3 609
Comoros 633 7 606
Faeroe Islands 530 0 506
Mauritius 524 10 489
Tanzania 509 21 183
Bermuda 456 9 247
Bhutan 439 0 408
Isle of Man 373 25 344
Cambodia 362 0 319
Cayman Islands 302 2 277
Barbados 297 7 273
Saint Lucia 278 4 240
Seychelles 202 0 184
Caribbean Netherlands 177 3 166
St. Barth 162 1 127
Brunei 152 3 147
Antigua and Barbuda 148 5 138
Saint Vincent and the Grenadines 98 0 81
Dominica 88 0 83
Grenada 85 0 41
British Virgin Islands 76 1 72
Fiji 46 2 38
Macau 46 0 46
Laos 41 0 34
New Caledonia 36 0 35
Timor-Leste 31 0 30
Saint Kitts and Nevis 28 0 23
Vatican City 27 0 15
Falkland Islands 23 0 17
Greenland 19 0 18
Solomon Islands 17 0 5
Saint Pierre Miquelon 14 0 14
Montserrat 13 1 12
Western Sahara 10 1 8
Anguilla 10 0 4
MS Zaandam 9 2 7
Marshall Islands 4 0 4
Wallis and Futuna 3 0 1
Samoa 2 0 2
Vanuatu 1 0 1
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/
TẤT ĐẠT
iconChia sẻ icon Chia sẻ
icon Chia sẻ

Advertisement