Vàng Mua Bán
SJC HN 55,550 56,070
SJC HCM 55,550 56,050
DOJI AVPL / HN 55,500 56,050
DOJI AVPL / HCM 55,600 56,000
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,070.00 23,100.00
EUR 26,543.85 26,811.97
GBP 29,242.77 29,538.15
JPY 212.46 214.61
Chứng khoán
VNIndex 914.09 8.88 0.97%
HNX 133.5 0.56 0.42%
UPCOM 61.73 0.21 0.33%

Đâu là nguyên nhân thực sự của căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên?

TRẦN NGHỊ 19:40 | 24/06/2020

Phong tỏa biên giới Trung - Triều ngăn chặn đại dịch làm tổn thương nền kinh tế Triều Tiên. Ông Kim lo lắng về phản ứng của người dân trước nạn đói.

Tạo áp lực

Khi căng thẳng gia tăng giữa hai miền Triều Tiên, không có gì khó hiểu khi sự chú ý tập trung vào vai trò của Kim Yo Jong, em giái nhà lãnh đạo tối cao Triều Tiên Kim Jong Un. Nhân vật này đã nổi lên như biểu tượng của cuộc tấn công và khiêu khích khó chịu nhắm vào Hàn Quốc.

Từng là biểu tượng của chính sách “ngoại giao nụ cười” của Bình Nhưỡng, bà Kim đổi thái độ khi đưa ra những lời đe dọa nghiêm khắc đối với Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in. Trong các tuyên bố gần đây, bà Kim Yo Jong tuyên bố sẽ gia tăng áp lực quân sự tại biên giới đe dọa miền Nam, sau đó cho phá hủy tòa nhà liên lạc hai miền - biểu tượng của hơn 2 năm hòa hoãn Bắc - Nam.

 Khí cầu từ Hàn Quốc mang theo nửa triệu truyền đơn chống Bình Nhưỡng do một nhóm người trốn chạy khỏi Triều Tiên thực hiện. Vấn đề này đã góp phần làm gia tăng căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.
 Khí cầu từ Hàn Quốc mang theo nửa triệu truyền đơn chống Bình Nhưỡng do một nhóm người trốn chạy khỏi Triều Tiên thực hiện. Vấn đề này đã góp phần làm gia tăng căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.

Nhà lãnh đạo Kim Jong Un trong phần lớn thời gian gần đây ít xuất hiện trên các phương tiện truyền thông Triều Tiên, làm gia tăng những đồn đoán về sức khỏe của ông. Đồng thời, sự vắng mặt của ông Kim khiến nhiều nhà phân tích cho rằng, căng thẳng gần đây trên bán đảo Triều Tiên có nguyên nhân chủ yếu là một cách tạo nền tảng để nâng em gái ông lên làm người kế nhiệm.

Tuy nhiên, khi nhìn sâu hơn những gì diễn ra tại Triều Tiên sẽ thấy một thủ phạm khác đằng sau cuộc khủng hoảng mới này. Đó chính là đại dịch COVID-19, theo Asia Times.

Do phải vất vả vượt qua tác động của lệnh trừng phạt quốc tế, nền kinh tế Triều Tiên còn chịu tác động khác là đại dịch COVID-19. Tác động kép này đã tạo nên cuộc suy thoái mạnh, do Tiều Tiên cần phải phong tỏa đất nước để ngăn chặn sự lây lan của virus corona từ Trung Quốc. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã khiến giới lãnh đạo Triều Tiên càng lo ngại hơn về phản ứng tiêu cực của người dân, vốn đa số còn phải cứu đói.

Sự đe dọa của Triều Tiên thực chất là nhằm mục đích thuyết phục Hàn Quốc “xé rào”, vượt qua lệnh trừng phạt quốc tế do Mỹ dẫn đầu. Bình Nhưỡng muốn Seoul tìm cách nối lại viện trợ và đầu tư. Điều này có nghĩa là các hạn chế đối với thương mại và đầu tư với Triều Tiên sẽ được loại bỏ, bất chấp lệnh trừng phạt quốc tế, một quan chức cấp cao của Mỹ tại Hàn Quốc cho hay.

Tác động của đại dịch

Thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên tại Hà Nội đổ vỡ khi hai bên không đạt được thỏa thuận nào.
Thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên tại Hà Nội đổ vỡ khi hai bên không đạt được thỏa thuận nào.

Triều Tiên đã có kinh nghiệm với các dịch bệnh SARS và Ebola trước đây, cho nên hồi tháng Giêng, khi có tin virus corona bùng phát từ Trung Quốc, Bình Nhưỡng đã nhanh chóng đóng cửa biên giới với Trung Quốc vào ngày 21/1. Cố gắng ngăn chặn dịch bệnh của Triều Tiên được hỗ trợ gấp đôi bởi Trung Quốc cũng phong tỏa biên giới với Triều Tiên.

Việc đóng cửa biên giới gây chấn động mạnh cho nền kinh tế Triều Tiên, cắt đứt dòng khách du lịch và nguồn thu ngoại tệ trực tiếp. Đồng thời, COVID-19 cũng ngăn những khoản đầu tư nhỏ từ Trung Quốc, cắt giảm mạnh thương mại chính thức và không chính thức của quốc gia khép kín này. Hầu như chỉ sau một đêm, thương mại hai chiều Trung Quốc - Triều Tiên giảm xuống gần bằng 0. Điều mấu chốt là dòng tiền từ Trung Quốc sang Triều Tiên cạn kiệt.

Suy thoái do virus corona xảy ra tại thời điểm các khu vực kinh tế nhà nước Triều Tiên phải đối mặt với sự sụp đổ. Hệ thống kinh tế kế hoạch của Bình Nhưỡng bị phá vỡ hoàn toàn. Theo các nguồn thạo tin, Triều Tiên năm nay không có kế hoạch 5 năm mới để thay thế kế hoạch sẽ kết thúc trong năm nay. Các khu vực quan trọng của nền kinh tế, chủ yếu là các doanh nghiệp lớn sản xuất thép và các mặt hàng chủ chốt khác của nhà nước vẫn phụ thuộc vào hệ thống kinh tế kế hoạch tập trung.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Ông Kim Jong Un tại hội nghị thượng đỉnh Hà Nội hồi năm ngoái, đã cố gắng thuyết phục Tổng thống Mỹ Donald Trump dỡ bỏ các lệnh trừng phạt nhưng không thành công. Điều đó khiến Bình Nhưỡng phải điều chỉnh chính sách kinh tế. Một bước ngoặt lớn về chính sách diễn ra trong năm 2019, giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tự lực, không trông chờ vào bên ngoài.

Vấn đề tiền tệ

Triều Tiên đang gặp khó khăn trong vấn đề tiền tệ.
Triều Tiên đang gặp khó khăn trong vấn đề tiền tệ.

Chính sách tiền tệ là một điểm yếu chính của Triều Tiên. Nỗi lo không kiểm soát được lạm phát đi đôi với việc áp dụng một chính sách tiền tệ thắt chặt, hạn chế việc in ấn và phát hành đồng won. Về mặt tích cực, nó mang lại tỷ giá hối đoái ổn định trong 5 năm qua, tạo ra sự ổn định và khuyến khích ngày càng tăng việc sử dụng tiền tệ trong lưu thông. Nhưng về nhược điểm, Triều Tiên không có khả năng bơm tín dụng vào các doanh nghiệp nhà nước và để cho các doanh nghiệp nhà nước “tự bơi”.

Hiện tại, khi đại dịch COVID-19 ngăn dòng tiền cứng từ thương mại và du lịch và đầu tư nước ngoài, hồi giữa tháng Tư, Bình Nhưỡng cho hay sẽ phát hành trái phiếu công khai lần đầu tiên sau 17 năm. Trái phiếu được sử dụng cho các doanh nghiệp thay vì tiền mặt, nhằm mua sắm vật tư cần thiết cho việc thực hiện các dự án lớn của nhà nước, như một bệnh viện khổng lồ tại Bình Nhưỡng.

Việc phát hành trái phiếu còn nhằm mục đích buộc các cá nhân và doanh nghiệp Triều Tiên chuyển tiền mặt (bao gồm đồng USD) để đổi lấy trái phiếu.

Hồi tháng Tư, chính phủ Triều Tiên cũng cho phép tư nhân chỉ tái hoạt động với điều kiện họ trả cho nhà nước các khoản thanh toán ngoại tệ đáng kể và phải nhập khẩu các hàng hóa từ danh mục đã được phê duyệt. Một nửa trong số hàng hóa thiết yếu đó được yêu cầu cung cấp cho chính phủ. Từ tháng 5/2020, Triều Tiên đã cấm sử dụng ngoại tệ trong hầu hết các giao dịch.

Bắt đầu từ năm ngoái, sau thất bại của hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều tại Hà Nội, Bình Nhưỡng chỉ trích Seoul vì mọi hành động bị phụ thuộc vào Mỹ. Sự căng thẳng biên giới liên Triều hiện tại cho thấy đó bước tiến rõ ràng trong nỗ lực gây sức ép của Bình Nhưỡng lên Seoul. Lý do các thỏa thuận Bắc - Nam không có tiến triển nào, dù chỉ là một bước nhỏ là do chính phủ Hàn Quốc thực hiện chính sách thân Mỹ, ông Kim Jong Un tuyên bố hôm 17/6.

Liệu Nhà Xanh có sẵn sàng mở hầu bao cho Triều Tiên hay không? Cho đến nay, thực tế cho thấy các động thái của Triều Tiên đã được tính toán cẩn thận nhằm không kích động sự leo thang vượt tầm kiểm soát. Bước đầu tiên làm nổ tung văn phòng liên lạc chung đã diễn ra trên lãnh thổ Triều Tiên.

Ngay cả các động thái đe dọa để phá hủy tiến trình phi quân sự hóa khu vực biên giới cũng không trực tiếp chạm vào lực lượng quân sự của Mỹ hoặc Liên Hợp Quốc. Theo các nhà phân tích, Triều Tiên sẽ tạm dừng khiêu khích để chờ đợi phản ứng từ Hàn Quốc, sau đó sẽ tiếp tục các hành động đe dọa nếu Seoul không có phản ứng phù hợp.

Trong khi đó, những áp lực từ trong nước sẽ tiếp tục là mối đe dọa thực sự đối với Bình Nhưỡng, khi dân chúng đã mệt mỏi vì chính sách thắt lưng buộc bụng dưới danh nghĩa dồn sức cho một cuộc nội chiến vẫn chưa kết thúc.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1095

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

1010

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

34.202.762

CA NHIỄM

1.019.580

CA TỬ VONG

25.457.354

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 394 31 360
Hà Nội 162 0 160
Quảng Nam 101 3 98
Hồ Chí Minh 77 0 77
Bà Rịa - Vũng Tàu 47 0 35
Bạc Liêu 44 0 27
Thái Bình 31 0 31
Hải Dương 25 0 25
Ninh Bình 23 0 23
Vĩnh Phúc 19 0 19
Khánh Hòa 19 0 16
Thanh Hóa 18 0 18
Quảng Ninh 11 0 11
Bắc Giang 10 0 10
Bình Thuận 9 0 9
Nam Định 8 0 7
Quảng Ngãi 7 0 7
Tây Ninh 7 0 7
Quảng Trị 7 1 5
Hưng Yên 6 0 5
Đồng Tháp 6 0 6
Cần Thơ 6 0 5
Hoà Bình 6 0 6
Bình Dương 6 0 1
Hà Nam 5 0 5
Trà Vinh 5 0 5
Lạng Sơn 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 4
Hải Phòng 3 0 3
Đồng Nai 3 0 3
Thanh Hoá 3 0 2
Phú Thọ 3 0 1
Đắk Lắk 3 0 3
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Hà Giang 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Bắc Ninh 1 0 1
Thái Nguyên 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 7.450.637 211.778 4.700.746
India 6.312.584 98.708 5.273.201
Brazil 4.813.586 143.962 4.180.376
Russia 1.185.231 20.891 964.242
Colombia 829.679 25.998 743.653
Peru 814.829 32.463 683.815
Spain 769.188 31.791 0
Argentina 751.001 16.937 594.645
Mexico 743.216 77.646 533.886
South Africa 674.339 16.734 608.112
France 563.535 31.956 96.797
Chile 462.991 12.741 436.589
Iran 461.044 26.380 383.368
United Kingdom 453.264 42.143 0
Bangladesh 364.987 5.272 277.078
Iraq 362.981 9.181 292.197
Saudi Arabia 334.605 4.768 319.154
Turkey 318.663 8.195 279.749
Italy 314.861 35.894 227.704
Philippines 314.079 5.562 254.223
Pakistan 312.806 6.484 297.497
Germany 292.911 9.571 256.000
Indonesia 291.182 10.856 218.487
Israel 248.133 1.571 177.752
Ukraine 213.028 4.193 94.443
Canada 158.758 9.297 134.971
Ecuador 137.047 11.355 112.296
Bolivia 135.311 7.965 95.529
Romania 129.658 4.862 103.994
Qatar 125.760 214 122.699
Morocco 123.653 2.194 102.715
Netherlands 120.845 6.406 0
Belgium 118.452 10.016 19.454
Panama 112.595 2.372 89.061
Dominican Republic 112.209 2.105 87.629
Kazakhstan 107.979 1.725 102.937
Kuwait 105.182 610 96.688
Egypt 103.198 5.930 96.494
Oman 98.585 935 88.528
United Arab Emirates 95.348 421 84.903
Poland 93.481 2.543 70.401
Sweden 92.863 5.893 0
Guatemala 91.746 3.246 80.256
China 85.414 4.634 80.594
Japan 83.010 1.564 76.025
Belarus 78.631 833 74.525
Nepal 77.817 498 56.428
Honduras 76.900 2.353 27.922
Costa Rica 75.760 904 37.841
Portugal 75.542 1.971 48.530
Ethiopia 75.368 1.198 31.204
Venezuela 75.122 628 65.225
Bahrain 70.864 251 64.838
Czech Republic 70.834 658 33.557
Nigeria 58.848 1.112 50.358
Singapore 57.786 27 57.488
Uzbekistan 56.997 471 53.457
Switzerland 53.832 2.074 42.700
Moldova 53.042 1.320 38.997
Algeria 51.530 1.736 36.174
Armenia 50.850 963 44.219
Kyrgyzstan 46.841 1.065 42.983
Ghana 46.626 301 45.757
Austria 45.686 802 36.476
Paraguay 40.758 857 24.449
Azerbaijan 40.229 591 37.954
Palestine 39.899 311 31.743
Lebanon 39.634 367 17.565
Afghanistan 39.285 1.458 32.842
Kenya 38.529 711 24.908
Ireland 36.155 1.804 23.364
Libya 34.525 551 19.361
Serbia 33.551 749 31.536
El Salvador 29.175 848 23.930
Denmark 27.998 650 20.754
Bosnia Herzegovina 27.469 856 20.616
Hungary 27.309 781 6.118
Australia 27.096 888 24.784
South Korea 23.889 415 21.666
Cameroon 20.838 418 19.440
Bulgaria 20.833 825 14.634
Ivory Coast 19.724 120 19.291
Greece 18.475 391 9.989
Tunisia 18.413 265 5.032
Macedonia 17.977 739 14.959
Croatia 16.827 284 15.218
Madagascar 16.408 230 15.301
Senegal 15.019 311 12.538
Zambia 14.759 332 13.959
Norway 14.027 274 11.190
Albania 13.649 387 7.847
Sudan 13.640 836 6.764
Myanmar 13.373 310 3.755
Jordan 11.825 61 4.626
Malaysia 11.484 136 10.014
Namibia 11.265 121 9.014
Slovakia 10.938 48 4.620
Montenegro 10.772 169 7.192
Congo [DRC] 10.659 272 10.139
Guinea 10.652 66 9.996
Maldives 10.291 34 9.108
Finland 10.103 344 8.100
French Guiana 9.955 66 9.589
Tajikistan 9.769 76 8.572
Haiti 8.766 229 6.829
Gabon 8.766 54 8.005
Mozambique 8.728 61 5.232
Luxembourg 8.509 124 7.174
Uganda 8.129 75 4.260
Zimbabwe 7.838 228 6.303
Mauritania 7.502 161 7.120
Georgia 6.640 40 3.419
Jamaica 6.482 107 1.867
Cape Verde 6.024 60 5.277
Slovenia 5.865 152 3.906
Malawi 5.773 179 4.263
Cuba 5.597 122 4.893
Guadeloupe 5.528 57 2.199
Swaziland 5.482 109 4.912
Djibouti 5.416 61 5.344
Nicaragua 5.170 151 2.913
Hong Kong 5.098 105 4.836
Democratic Republic Congo Brazzaville 5.089 89 3.887
Equatorial Guinea 5.030 83 4.769
Angola 4.972 183 1.941
Suriname 4.877 104 4.695
Rwanda 4.840 29 3.154
Central African Republic 4.829 62 1.914
Lithuania 4.784 92 2.424
Trinidad and Tobago 4.531 76 2.560
Syria 4.200 200 1.103
Bahamas 4.123 96 2.206
Réunion 3.993 16 2.819
Aruba 3.963 27 3.259
Mayotte 3.779 42 2.964
Somalia 3.588 99 2.946
Gambia 3.579 112 2.161
Thailand 3.569 59 3.379
Estonia 3.450 65 2.643
Sri Lanka 3.380 13 3.230
Botswana 3.172 16 710
Mali 3.118 131 2.453
Malta 3.095 35 2.605
Guyana 2.894 80 1.680
Iceland 2.728 10 2.167
South Sudan 2.704 49 1.290
Benin 2.357 41 1.973
Guinea-Bissau 2.324 39 1.549
Sierra Leone 2.231 72 1.687
Burkina Faso 2.056 58 1.335
Andorra 2.050 53 1.432
Uruguay 2.046 48 1.791
Yemen 2.034 587 1.286
Belize 1.992 27 1.246
Latvia 1.868 37 1.307
French Polynesia 1.852 7 1.504
New Zealand 1.848 25 1.770
Togo 1.784 48 1.348
Cyprus 1.755 22 1.369
Lesotho 1.595 36 873
Martinique 1.543 21 98
Liberia 1.343 82 1.221
Chad 1.200 85 1.007
Niger 1.197 69 1.114
Vietnam 1.095 35 1.010
Sao Tome and Principe 911 15 886
San Marino 732 42 680
Diamond Princess 712 13 651
Turks and Caicos 689 6 645
Sint Maarten 667 22 557
Channel Islands 665 48 600
Papua New Guinea 534 7 516
Taiwan 515 7 484
Tanzania 509 21 183
Burundi 508 1 472
Comoros 479 7 464
Faeroe Islands 467 0 429
Gibraltar 396 0 344
Curaçao 392 1 171
Saint Martin 383 8 273
Mauritius 381 10 344
Eritrea 375 0 341
Isle of Man 340 24 315
Mongolia 313 0 307
Bhutan 282 0 222
Cambodia 277 0 275
Monaco 218 2 181
Cayman Islands 211 1 208
Barbados 190 7 179
Bermuda 181 9 167
Brunei 146 3 142
Seychelles 144 0 140
Caribbean Netherlands 121 1 32
Liechtenstein 118 1 113
Antigua and Barbuda 101 3 92
British Virgin Islands 71 1 66
Saint Vincent and the Grenadines 64 0 64
St. Barth 48 0 25
Macau 46 0 46
Fiji 32 2 28
Dominica 30 0 24
Timor-Leste 28 0 28
Saint Lucia 27 0 27
New Caledonia 27 0 27
Grenada 24 0 24
Laos 23 0 22
Saint Kitts and Nevis 19 0 17
Saint Pierre Miquelon 16 0 6
Greenland 14 0 14
Falkland Islands 13 0 13
Montserrat 13 1 12
Vatican City 12 0 12
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Anguilla 3 0 3
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/
Từ khóa:
id news:205522