Vàng Mua Bán
SJC HN 56,100 56,570
SJC HCM 56,100 56,550
DOJI AVPL / HN 56,050 56,500
DOJI AVPL / HCM 56,050 56,500
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,060.00 23,090.00
EUR 26,792.23 27,062.86
GBP 29,266.30 29,561.92
JPY 214.93 217.10
Chứng khoán
VNIndex 907.94 6.99 0.77%
HNX 130.58 1.38 1.06%
UPCOM 60.59 0.0 0.0%

COVID-19 có thể khiến hơn 125.000 người chết ở Brazil

P.V (t/h) 08:10 | 27/05/2020

Theo thống kê của trang worldometers, đến 8h sáng 27/5, tổng số ca nhiễm COVID-19 trên toàn thế giới là 5.678.046 người, trong đó có 351.667 ca tử vong.

Mỹ vẫn là nước ghi nhận nhiều ca nhiễm nhất, với 1.725.148 ca, và số ca tử vong đã lên tới 100.579 ca. 

Dịch bệnh đến nay đã xuất hiện và lây lan ở 213 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các nước cũng ghi nhận 2.428.132 bệnh nhân được điều trị khỏi, số ca nguy kịch giảm xuống còn 53.101 và 2.845.246 ca đang điều trị tích cực.

Xu thế dịch "hạ nhiệt" tiếp tục diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới, xét cả về số ca tử vong và dương tính mới với virus SARS-CoV-2. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều nước châu Âu đang từng bước nới lỏng các biện pháp phòng dịch và khôi phục các hoạt động kinh tế-xã hội, đại dịch COVID-19 lại có nguy cơ hình thành các ổ dịch mới với "tâm bão" dịch chuyển sang khu vực Mỹ Latinh.

Brazil có thể trở thành "điểm nóng" mới khi dịch bệnh đang diễn biến xấu với tốc độ rất nhanh những ngày gần đây. Hiện nước này đã ghi nhận tổng cộng 392.360 ca mắc COVID-19 (đứng thứ hai trên thế giới, sau Mỹ), trong đó có 24.549 ca tử vong. Mặc dù vậy, nhà chức trách nước này vẫn chưa triển khai những biện pháp nghiêm ngặt nhằm phòng chống dịch bệnh.

Một nghiên cứu của Viện Đo lường và đánh giá sức khỏe (IHME) thuộc trường Đại học Washington của Mỹ dự báo số người tử vong do COVID-19 tại Brazil có thể sẽ lên tới hơn 125.000 người vào đầu tháng 8 tới.

Trong khi đó, Bộ Y tế Mexico cũng thông báo số ca bệnh và tử vong do COVID-19 đã tăng kỷ lục trong vòng 24 giờ qua, với 3.461 ca bệnh mới và 501 ca tử vong, nâng tổng số ca mắc bệnh lên 74.566 người, trong đó có 8.134 ca tử vong, và 31.878 trường hợp nghi ngờ nhiễm bệnh. 

Cơ quan chức năng cho biết bên cạnh số ca tử vong trong nước, 1.073 công dân nước này đã tử vong do COVID-19 tại nước ngoài và 13.175 công dân đã được hồi hương. Tính tới thời điểm hiện tại, Mexico đã tiến hành 235.129 xét nghiệm.

Theo kế hoạch, Mexico sẽ dỡ bỏ lệnh giãn cách xã hội vào ngày ngày 31/5. Tuy nhiên, chính quyền các bang có thể tiếp tục áp dụng các biện pháp bổ sung tùy thuộc vào diễn biến dịch tại địa phương. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá các quốc gia châu Mỹ là tâm dịch mới của đại dịch COVID-19 và hiện không phải thời điểm để những nước này nới lỏng các biện pháp hạn chế.

Số ca mắc bệnh cũng liên tiếp tăng cao ở Chile, Peru, Ecuador, và Venezuela, cho thấy đại dịch COVID-19 đang tăng tốc. WHO dự báo tại Nam Mỹ chỉ có Bolivia và Paraguay có thể sẽ ghi nhận mức sụt giảm nhẹ về số ca dương tính với virus SARS-CoV-2.

Nước Mỹ hiện vẫn là tâm dịch nóng nhất thế giới và là quốc gia đầu tiên có số ca tử vong vì đại dịch vượt quá con số 1.000. Tuy nhiên, nếu xét về các chỉ số ca tử vong và ca mắc bệnh mới, thì xu thế dịch đang có chiều hướng chững lại và hạ nhiệt tại Mỹ. Hiện hầu hết các tiểu bang của Mỹ đã mở cửa trở lại hoạt động kinh tế và xã hội.

Trong khi ngay tại "tâm dịch" New York, thị trường tài chính Phố Wall cũng đã mở cửa sau hơn 1 tháng đóng băng, các bãi biển đã được phép đón khách trở lại... Sáng 26/5 (theo giờ Mỹ), các chỉ số chứng khoán của Phố Wall đã đồng loạt tăng điểm trong bối cảnh có thêm nhiều hy vọng về vaccine ngừa bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 và Sàn Giao dịch chứng khoán New York (NYSE) chính thức hoạt động trở lại kể từ khi phải tạm đóng cửa vào cuối tháng 3.

  Maria Velez ở Orlando, Florida, ôm bia mộ của con trai Stephen tại Nghĩa trang Quốc gia Dự trữ Tây Ohio vào Ngày Tưởng niệm ở Seville, Ohio. Ảnh: REUTERS 

Maria Velez ở Orlando, Florida, ôm bia mộ của con trai Stephen tại Nghĩa trang Quốc gia Dự trữ Tây Ohio vào Ngày Tưởng niệm ở Seville, Ohio. Ảnh: REUTERS 

Tại châu Âu, Chính phủ Đức đã ra quyết định tiếp tục kéo dài các biện pháp giãn cách xã hội đến ngày 29/6, sớm hơn một tuần so với kế hoạch đưa ra trước đó là ngày 5/7, nhằm kiềm chế sự lây lan của COVID-19.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Theo quyết định này, bên cạnh việc tiếp tục duy trì các biện pháp giãn cách xã hội đến ngày 29/6, chính phủ cũng sẽ nới lỏng một số hạn chế, trong đó cho phép tối đa 10 người hoặc các thành viên của hai hộ gia đình được gặp nhau ở nơi công cộng kể từ ngày 6/6. Tuy nhiên, chính quyền các bang cũng có thể tự điều chỉnh quy định về số lượng người ở nơi công cộng dựa theo mức tỉ lệ lây nhiễm cho phép.

Bên cạnh đó, Chính phủ Đức và chính quyền các bang cũng yêu cầu người dân tiếp tục tuân thủ và đảm bảo các quy định về vệ sinh cũng như giữ khoảng cách tối thiểu 1,5m, đặc biệt khi gặp nhau trong không gian kín. Số lượng người nên tương ứng với kích thước của phòng để đảm bảo sự lưu thông không khí.

Ngoài ra, Chính phủ Đức cũng khuyến cáo bất cứ nơi nào có thể, các cuộc gặp mặt nên được tổ chức ngoài trời vì nguy cơ lây nhiễm ở đây sẽ thấp hơn đáng kể, đồng thời lưu ý trong mọi trường hợp, cần đảm bảo khả năng truy nguồn gốc của những người tham gia trong trường hợp phát hiện nhiễm bệnh.

Cũng trong một diễn biến tích cực, chính phủ các nước Hungary, Slovakia và CH Séc đã nhất trí sẽ mở lại đường biên giới chung giữa các nước này kể từ đêm 26/5. Theo Ngoại trưởng Hungary Peter Szijjarto cho biết nước này đã đồng ý với các đối tác CH Séc và Slovakia cho phép các công dân của mỗi nước ở lại trên lãnh thổ của các nước còn lại trong không quá 48 giờ mà không cần cách ly.

Tuy nhiên, công dân Hungary có thể đến CH Séc nếu đi qua Slovakia, nhưng không thể quay về Hungary qua đường Slovakia. Họ sẽ phải đi vòng qua Áo và điều tương tự cũng được áp dụng đối với công dân Séc trở về từ Hungary.  

Còn Ngoại trưởng Séc Tomas Petricek thì nêu rõ các công dân ba nước trên có thể đi lại giữa các nước này mà không cần phải nộp giấy chứng nhận xét nghiệm âm tính đối với virus SARS-CoV-2 gây bệnh COVID-19 và không cần kiểm dịch nếu họ quay trở lại trong vòng 48 giờ.  

Trước đó, ngày 25/5, Hungary tuyên bố mở cửa biên giới với Serbia, sau khi mở lại biên giới với Romania hồi tuần trước. Cũng trong ngày 26/5, CH Séc bắt đầu mở lại các cửa khẩu biên giới với nước láng giềng Đức và Áo. Tuy nhiên, giấy chứng nhận xét nghiệm SARS-CoV-2 âm tính vẫn là bắt buộc và việc kiểm tra ở biên giới sẽ được tiến hành ngẫu nhiên.

Trong khi đó, Bộ Y tế Italy cảnh báo nguy cơ dịch viêm đường hô hâp cấp COVID-19 bùng phát lần hai tại nước này, song khẳng định Italy đã chuẩn bị sẵn sàng để ứng phó với đợt bùng phát mới.   Phát biểu trên kênh truyền hình Sky TV, Bộ trưởng Y tế Italy Roberto Speranza cho rằng: "Tất cả các nhà khoa học trên thế giới đều quan ngại về làn sóng dịch COVID-19 lần thứ hai và những ai chịu trách nhiệm về các quyết định chính trị không thể đánh giá thấp khả năng này, do đó, chúng tôi đã tăng số giường chăm sóc tích cực lên 115%".

Bộ trưởng Roberto Speranza khẳng định Italy đã sẵn sàng cho làn sóng thứ hai của dịch bệnh, đồng thời khuyến cáo người dân sẵn sàng phối hợp với cơ quan y tế, Hội Chữ thập đỏ để tiến hành xét nghiệm huyết thanh, giúp các nhà khoa học có thể nghiên cứu và hiểu rõ hơn về dịch bệnh.

Tại châu Phi, ngày 26/5, Bộ Y tế Ai Cập thông báo ghi nhận thêm 789 trường hợp nhiễm SARS-CoV-2, đánh dấu mức tăng kỷ lục trong ngày kể từ khi phát hiện ca mắc bệnh đầu tiên hồi giữa tháng Hai vừa qua, nâng tổng số trường hợp mắc COVID-19 ở quốc gia Bắc Phi này lên 18.756 người.

Theo người phát ngôn Bộ Y tế Ai Cập Khaled Megahed (Kha-lết Mê-ga-hết), số bệnh nhân tử vong do căn bệnh nguy hiểm này hiện là 797 người, sau khi có thêm 14 ca tử vong trong ngày. Bên cạnh đó, có 127 bệnh nhân được xuất viện, nâng tổng số ca khỏi bệnh lên 5.027 người.

Bất chấp các giải pháp được triển khai nhằm kiềm chế dịch COVID-19, số ca nhiễm virus SARS-CoV-2 tại Ai Cập vẫn tăng mạnh kể từ cuối tháng Ba đến nay. Hiện Ai Cập đã tăng cường các biện pháp chống dịch COVID-19, đặc biệt trong dịp lễ Eid El-Fitr của người Hồi giáo, vốn bắt đầu từ ngày 24/5, nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh nguy hiểm này.

Ai Cập hiện vẫn áp đặt lệnh giới nghiêm từ 17h chiều cho đến sáng hôm sau, bắt đầu từ ngày 24-29/5. Trong thời gian này, tất cả các cửa hàng, trung tâm mua sắm, công viên cũng như các bãi biển đều đóng cửa hoàn toàn, đồng thời hoạt động đi lại giữa các tỉnh cũng tạm ngừng.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1068

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

947

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

31.277.398

CA NHIỄM

965.656

CA TỬ VONG

22.853.981

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 394 31 349
Hà Nội 161 0 154
Quảng Nam 101 3 91
Hồ Chí Minh 77 0 73
Bà Rịa - Vũng Tàu 47 0 29
Thái Bình 31 0 31
Bạc Liêu 27 0 27
Hải Dương 25 0 22
Ninh Bình 23 0 23
Vĩnh Phúc 19 0 19
Khánh Hòa 19 0 4
Thanh Hóa 18 0 18
Quảng Ninh 11 0 11
Bắc Giang 10 0 6
Bình Thuận 9 0 9
Nam Định 8 0 7
Quảng Ngãi 7 0 7
Tây Ninh 7 0 4
Quảng Trị 7 1 2
Đồng Tháp 6 0 6
Hoà Bình 6 0 6
Hà Nam 5 0 5
Cần Thơ 5 0 3
Trà Vinh 5 0 5
Hưng Yên 5 0 5
Lạng Sơn 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Hải Phòng 3 0 3
Đồng Nai 3 0 3
Đắk Lắk 3 0 3
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Thái Nguyên 1 0 1
Hà Giang 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Bình Dương 1 0 0
Bắc Ninh 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Phú Thọ 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 7.005.686 204.122 4.250.497
India 5.491.410 87.933 4.396.399
Brazil 4.544.629 136.895 3.851.227
Russia 1.109.595 19.489 911.973
Peru 768.895 31.369 615.255
Colombia 765.076 24.208 633.199
Mexico 697.663 73.493 499.302
South Africa 661.211 15.953 590.071
Spain 659.334 30.495 0
Argentina 631.365 13.053 488.231
France 452.763 31.285 91.574
Chile 446.274 12.286 419.746
Iran 425.481 24.478 361.523
United Kingdom 394.257 41.777 0
Bangladesh 350.621 4.979 258.717
Saudi Arabia 329.754 4.485 310.439
Iraq 319.035 8.555 253.591
Pakistan 306.304 6.420 292.869
Turkey 302.867 7.506 267.233
Italy 298.156 35.707 218.351
Philippines 290.190 4.999 230.233
Germany 273.793 9.471 244.000
Indonesia 248.852 9.677 180.797
Israel 188.760 1.260 135.997
Ukraine 178.353 3.583 78.184
Canada 143.649 9.217 124.691
Bolivia 130.676 7.617 89.617
Ecuador 126.419 11.090 102.852
Qatar 123.604 211 120.540
Romania 113.589 4.458 90.649
Dominican Republic 108.289 2.047 81.668
Kazakhstan 107.307 1.671 101.941
Panama 106.203 2.257 81.365
Belgium 102.295 9.948 18.965
Egypt 102.015 5.770 89.532
Morocco 101.743 1.830 80.732
Kuwait 99.434 584 90.168
Oman 94.051 853 85.781
Netherlands 93.778 6.279 0
Sweden 88.237 5.865 0
United Arab Emirates 85.595 405 75.086
Guatemala 85.444 3.119 74.859
China 85.291 4.634 80.484
Poland 79.988 2.298 64.604
Japan 78.657 1.500 71.030
Belarus 75.674 780 73.265
Honduras 71.616 2.184 22.065
Ethiopia 68.820 1.096 28.314
Portugal 68.577 1.912 45.596
Venezuela 66.656 547 56.096
Nepal 65.276 427 47.238
Bahrain 65.039 223 57.950
Costa Rica 63.712 706 23.552
Singapore 57.607 27 57.181
Nigeria 57.242 1.098 48.569
Uzbekistan 52.070 437 48.369
Switzerland 50.378 2.049 40.500
Algeria 49.826 1.672 35.047
Czech Republic 49.290 503 24.755
Armenia 47.552 936 42.637
Moldova 46.596 1.203 34.236
Ghana 46.004 297 45.153
Kyrgyzstan 45.471 1.063 41.682
Azerbaijan 39.188 575 36.755
Afghanistan 39.074 1.444 32.576
Austria 38.658 767 29.516
Kenya 36.981 648 23.887
Palestine 36.151 265 24.428
Paraguay 33.520 659 18.117
Ireland 32.933 1.792 23.364
Serbia 32.908 741 31.411
Lebanon 29.303 297 12.047
Libya 28.796 450 15.384
El Salvador 27.798 812 21.782
Australia 26.912 851 24.063
Bosnia Herzegovina 25.521 770 18.109
Denmark 23.323 640 17.738
South Korea 23.045 385 20.248
Cameroon 20.431 416 19.124
Ivory Coast 19.320 120 18.460
Hungary 18.866 686 4.401
Bulgaria 18.863 761 13.580
Macedonia 16.735 693 13.863
Madagascar 16.073 225 14.682
Greece 15.142 338 9.989
Croatia 14.992 253 12.737
Senegal 14.738 302 11.458
Zambia 14.131 330 13.365
Sudan 13.555 836 6.760
Norway 12.897 267 10.371
Albania 12.385 362 6.940
Tunisia 10.732 159 2.386
Congo [DRC] 10.519 271 9.952
Namibia 10.377 112 8.033
Guinea 10.325 64 9.692
Malaysia 10.276 130 9.395
Maldives 9.724 33 8.261
French Guiana 9.692 65 9.341
Tajikistan 9.346 73 8.108
Finland 9.046 339 7.700
Gabon 8.696 53 7.848
Haiti 8.619 221 6.363
Montenegro 8.612 136 5.268
Luxembourg 7.907 124 6.703
Zimbabwe 7.683 225 5.924
Mauritania 7.368 161 6.951
Mozambique 6.771 43 3.622
Slovakia 6.756 39 3.571
Uganda 6.468 63 2.731
Myanmar 5.805 94 1.260
Malawi 5.731 179 4.040
Djibouti 5.403 61 5.335
Swaziland 5.269 104 4.624
Cape Verde 5.257 51 4.599
Cuba 5.091 115 4.412
Hong Kong 5.039 103 4.717
Equatorial Guinea 5.002 83 4.509
Jamaica 4.988 67 1.350
Democratic Republic Congo Brazzaville 4.986 89 3.887
Nicaragua 4.961 147 2.913
Central African Republic 4.786 62 1.830
Jordan 4.779 30 2.844
Suriname 4.723 97 4.488
Rwanda 4.711 26 2.961
Slovenia 4.470 142 3.048
Angola 3.991 152 1.445
Trinidad and Tobago 3.901 65 1.753
Lithuania 3.814 87 2.199
Syria 3.800 172 946
Georgia 3.695 20 1.534
Aruba 3.551 23 2.239
Mayotte 3.541 40 2.964
Gambia 3.526 108 1.992
Thailand 3.506 59 3.342
Somalia 3.442 98 2.877
Guadeloupe 3.426 26 837
Bahamas 3.315 74 1.689
Sri Lanka 3.287 13 3.100
Réunion 3.194 15 2.482
Mali 3.013 128 2.372
Estonia 2.941 64 2.379
Malta 2.776 22 2.079
South Sudan 2.642 49 1.290
Botswana 2.567 13 624
Iceland 2.346 10 2.121
Guinea-Bissau 2.303 39 1.127
Benin 2.280 40 1.950
Guyana 2.269 64 1.339
Sierra Leone 2.168 72 1.650
Yemen 2.026 586 1.227
Uruguay 1.917 46 1.621
Burkina Faso 1.846 56 1.187
New Zealand 1.815 25 1.728
Togo 1.666 41 1.269
Belize 1.627 21 918
Cyprus 1.600 22 1.282
Andorra 1.564 53 1.164
Latvia 1.526 36 1.248
Lesotho 1.424 33 754
Liberia 1.335 82 1.216
French Polynesia 1.271 2 1.028
Niger 1.188 69 1.104
Chad 1.151 81 967
Martinique 1.122 18 98
Vietnam 1.068 35 942
Sao Tome and Principe 908 15 878
San Marino 723 42 669
Diamond Princess 712 13 651
Turks and Caicos 668 5 572
Channel Islands 644 48 575
Sint Maarten 584 20 488
Papua New Guinea 517 7 232
Taiwan 509 7 479
Tanzania 509 21 183
Burundi 473 1 462
Comoros 470 7 450
Faeroe Islands 437 0 413
Mauritius 366 10 338
Eritrea 364 0 305
Gibraltar 350 0 323
Isle of Man 339 24 312
Saint Martin 330 6 206
Mongolia 312 0 302
Cambodia 275 0 274
Curaçao 268 1 96
Bhutan 261 0 192
Cayman Islands 208 1 204
Monaco 193 1 153
Barbados 189 7 173
Bermuda 180 9 166
Brunei 145 3 142
Seychelles 141 0 136
Liechtenstein 113 1 109
Antigua and Barbuda 96 3 92
British Virgin Islands 69 1 48
Saint Vincent and the Grenadines 64 0 64
Macau 46 0 46
Caribbean Netherlands 36 1 17
Fiji 32 2 26
Timor-Leste 27 0 26
Saint Lucia 27 0 26
New Caledonia 26 0 26
Grenada 24 0 24
Dominica 24 0 18
St. Barth 23 0 16
Laos 23 0 22
Saint Kitts and Nevis 17 0 17
Greenland 14 0 14
Falkland Islands 13 0 13
Montserrat 13 1 12
Vatican City 12 0 12
Saint Pierre Miquelon 11 0 5
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Anguilla 3 0 3
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/
Từ khóa:
id news:203137