Vàng Mua Bán
SJC HN 55,100 55,620
SJC HCM 55,100 55,600
DOJI AVPL / HN 54,920 55,400
DOJI AVPL / HCM 54,950 55,550
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,070.00 23,100.00
EUR 26,351.72 26,617.90
GBP 28,858.50 29,150.00
JPY 212.60 214.75
Chứng khoán
VNIndex 908.27 -0.31 -0.03%
HNX 131.52 -0.19 -0.14%
UPCOM 61.0 0.04 0.06%

Vì sao WB nhận định kinh tế Việt Nam có thể khởi sắc trở lại hậu COVID-19?

AN LY (t/h) 17:28 | 05/05/2020

Ngày 5/5, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết, Ngân hàng Thế giới vừa công bố Bản tin cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 5/2020.

Theo đó, Ngân hàng Thế giới nhận định, điểm sáng là kinh tế Việt Nam có thể sẽ khởi sắc trở lại sau khi nới lỏng các biện pháp cách ly xã hội trên toàn quốc từ ngày 23/4.

Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch COVID-19

Sau khi cầm cự khá tốt trong quý I năm 2020 với mức tăng trưởng GDP ước đạt 3,8%, kinh tế Việt Nam có dấu hiệu suy giảm do tình trạng cách ly xã hội toàn quốc trong tháng 4. Việc thực hiện cách ly xã hội trên toàn quốc trong tháng 4 đã để lại những hậu quả kinh tế, thể hiện qua các chỉ số kinh tế chủ đạo.

Kinh tế Việt Nam có thể sẽ khởi sắc trở lại sau khi nới lỏng các biện pháp cách ly xã hội. Ảnh minh họa: TTXVN
Kinh tế Việt Nam có thể sẽ khởi sắc trở lại sau khi nới lỏng các biện pháp cách ly xã hội. Ảnh minh họa: TTXVN

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IPP) trong tháng 4 giảm 13,3% so với tháng 3, tương đương 10,5% (so cùng kỳ năm trước), là mức giảm lớn nhất từ trước đến nay. Doanh số bán lẻ cũng giảm đáng kể (giảm 9,6% so cùng kỳ năm trước) do người tiêu dùng gặp phải nhiều xáo trộn và hạn chế đi lại (kể cả khi có dấu hiệu chuyển dịch sang thương mại điện tử). Vận tải hành khách và hàng hóa giảm lần lượt 27,5% và 7,2%.

WB dẫn lại theo tính toán Tổng cục Thống kê, việc làm ở các ngành chế tạo và chế biến chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, với 1,2 triệu việc làm bị ảnh hưởng trong quý 1; tiếp theo là 1,1 triệu việc làm trong các ngành bán buôn và bán lẻ, 740.000 trong các ngành lưu trú.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tăng 4,7% (so cùng kỳ năm trước) trong giai đoạn tháng 1-4, so với tốc độ tăng trưởng 6,5% cùng kỳ năm 2019. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài chỉ tăng 1,5% so với 4,4% trong cùng kỳ năm trước.

Mặc dù chưa có ước tính chính thức, nhưng cán cân thu nhập và thương mại dịch vụ gần như chắc chắn là suy giảm mạnh do Việt Nam gần như dừng đón khách du lịch nước ngoài (lượng khách giảm 98% trong tháng 4/2020 so với năm trước) và dự kiến kiều hối cũng giảm mạnh.

Trong bốn tháng đầu năm 2020, cam kết vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 12,3 tỷ USD, giảm 15,5% so cùng kỳ năm trước. Điều đáng ngạc nhiên là giá trị vốn FDI cam kết quay đầu bật lại trong tháng 4, tăng 81% so với tháng 3/2020 và 62% so với tháng 4/2019.

Kinh tế Việt Nam có thể khởi sắc trở lại

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Tăng trưởng tín dụng đảo chiều tăng lên trong tháng 3 sau khi chững lại trong 2 tháng đầu năm 2020. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết tăng trưởng tín dụng cuối tháng 3 là 1,3% so với đầu năm - tương đương mức tăng khoảng 11% so cùng kỳ năm trước.

Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện gói các biện pháp hỗ trợ từ đầu tháng 3 nhằm cho phép các ngân hàng tái cơ cấu vốn vay và giảm lãi suất cho người vay. Ngân hàng Nhà nước cũng cân nhắc hỗ trợ tăng thanh khoản cho một số ngân hàng thương mại thông qua việc nâng hạn mức tín dụng, cho phép những ngân hàng này tăng các khoản vay cho các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính.

Vì sao WB nhận định kinh tế Việt Nam có thể khởi sắc trở lại hậu COVID-19?

Tình hình thực hiện ngân sách trong quý đầu năm 2020 là giảm thu và tăng chi, được dự báo cũng là xu hướng cho những tháng còn lại trong năm. Theo Bộ Tài chính, ước thực hiện thu ngân sách trong quý đầu năm 2020 chỉ tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước.

Kết quả này phản ánh hiệu quả thu tốt hơn trong hai tháng đầu trước khi hoạt động kinh tế bị chững lại và kết quả thực hiện giãn nộp thuế có hiệu lực đầy đủ trong tháng 4. Trong quý I, tổng chi tăng 8,7% (so cùng kỳ năm trước), cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 5% trong giai đoạn này. Mức tăng này được lý giải là do Chính phủ mong muốn đẩy mạnh triển khai các dự án hạ tầng quan trọng.

Đặc biệt, tổ chức Fitch Ratings (Fitch), là một trong 3 tổ chức xếp hạng thống kê hàng đầu thế giới đã điều chỉnh triển vọng của Việt Nam từ mức tích cực sang mức ổn định và giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam ở mức BB. Triển vọng được sửa đổi cho thấy tác động leo thang của đại dịch COVID-19 với nền kinh tế Việt Nam trong các lĩnh vực xuất khẩu và du lịch, cũng như sức cầu trong nước yếu đi.

Xếp hạng của Fitch khẳng định viễn cảnh tăng trưởng mạnh mẽ trong trung hạn của Việt Nam dựa trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, mức nợ chính phủ thấp và khu vực kinh tế đối ngoại có khả năng chống chịu, bao gồm cả dự trữ ngoại hối ở mức khá lớn.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1069

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

999

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

32.983.361

CA NHIỄM

996.654

CA TỬ VONG

24.336.538

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 394 31 360
Hà Nội 161 0 160
Quảng Nam 101 3 96
Hồ Chí Minh 77 0 77
Bà Rịa - Vũng Tàu 47 0 35
Thái Bình 31 0 31
Bạc Liêu 27 0 27
Hải Dương 25 0 23
Ninh Bình 23 0 23
Vĩnh Phúc 19 0 19
Khánh Hòa 19 0 15
Thanh Hóa 18 0 18
Quảng Ninh 11 0 11
Bắc Giang 10 0 9
Bình Thuận 9 0 9
Nam Định 8 0 7
Quảng Ngãi 7 0 7
Tây Ninh 7 0 7
Quảng Trị 7 1 3
Đồng Tháp 6 0 6
Hưng Yên 6 0 5
Hoà Bình 6 0 6
Trà Vinh 5 0 5
Hà Nam 5 0 5
Cần Thơ 5 0 3
Lạng Sơn 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Hải Phòng 3 0 3
Đắk Lắk 3 0 3
Đồng Nai 3 0 3
Lào Cai 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Thái Nguyên 1 0 1
Hà Giang 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Bình Dương 1 0 1
Bắc Ninh 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Phú Thọ 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 7.277.995 208.986 4.505.752
India 5.990.513 94.533 4.938.641
Brazil 4.694.648 140.783 4.040.949
Russia 1.143.571 20.225 940.150
Colombia 798.317 25.103 687.477
Peru 794.584 32.037 650.948
Spain 735.198 31.232 0
Mexico 720.858 75.844 518.204
Argentina 691.235 15.208 546.924
South Africa 668.529 16.312 599.149
France 527.446 31.700 94.891
Chile 455.979 12.591 430.259
Iran 443.086 25.394 372.051
United Kingdom 429.277 41.971 0
Bangladesh 357.873 5.129 268.777
Iraq 345.969 8.935 276.918
Saudi Arabia 332.790 4.655 316.405
Turkey 312.966 7.929 274.514
Pakistan 309.581 6.451 295.333
Italy 308.104 35.818 223.693
Philippines 301.256 5.284 232.906
Germany 285.025 9.532 249.500
Indonesia 271.339 10.308 199.403
Israel 227.100 1.441 157.537
Ukraine 195.504 3.903 85.133
Canada 151.671 9.263 130.328
Ecuador 133.981 11.273 102.852
Bolivia 133.222 7.800 92.868
Qatar 124.850 214 121.738
Romania 121.235 4.687 97.554
Morocco 115.241 2.041 94.150
Belgium 110.976 9.969 19.184
Dominican Republic 110.957 2.093 85.220
Panama 109.431 2.311 86.158
Netherlands 108.631 6.366 0
Kazakhstan 107.659 1.699 102.530
Kuwait 103.199 597 94.211
Egypt 102.625 5.853 93.531
Oman 95.907 885 86.765
Sweden 90.923 5.880 0
United Arab Emirates 90.618 411 79.676
Guatemala 89.702 3.213 78.284
Poland 85.980 2.424 67.326
China 85.337 4.634 80.536
Japan 80.497 1.532 73.490
Belarus 77.289 813 74.046
Honduras 73.840 2.271 25.728
Portugal 72.939 1.944 47.380
Ethiopia 72.700 1.165 30.029
Costa Rica 72.049 828 27.760
Nepal 71.821 467 53.013
Venezuela 71.273 591 60.709
Bahrain 68.190 239 61.475
Czech Republic 62.559 588 30.891
Nigeria 58.062 1.103 49.606
Singapore 57.685 27 57.359
Uzbekistan 54.819 452 51.322
Switzerland 51.864 2.064 42.600
Algeria 50.914 1.711 35.756
Moldova 50.534 1.279 37.440
Armenia 49.072 948 43.576
Ghana 46.222 299 45.417
Kyrgyzstan 46.090 1.063 42.302
Austria 42.214 787 33.154
Azerbaijan 39.895 585 37.523
Afghanistan 39.192 1.453 32.635
Palestine 38.253 285 27.704
Kenya 37.707 682 24.504
Paraguay 37.226 761 21.117
Lebanon 35.242 340 15.434
Ireland 34.560 1.802 23.364
Serbia 33.312 746 31.536
Libya 31.828 499 17.508
El Salvador 28.415 826 22.643
Australia 27.016 870 24.571
Bosnia Herzegovina 26.797 820 19.746
Denmark 26.213 648 19.350
South Korea 23.516 399 21.166
Hungary 23.077 730 5.099
Cameroon 20.712 418 19.440
Bulgaria 19.828 789 14.132
Ivory Coast 19.600 120 19.122
Macedonia 17.483 722 14.516
Greece 17.228 376 9.989
Madagascar 16.257 229 14.922
Croatia 16.007 269 14.405
Senegal 14.869 306 12.028
Zambia 14.515 332 13.643
Tunisia 14.392 191 5.032
Sudan 13.606 836 6.764
Norway 13.589 270 11.190
Albania 13.153 375 7.397
Namibia 10.918 120 8.749
Malaysia 10.769 133 9.785
Congo [DRC] 10.593 271 10.093
Guinea 10.478 65 9.816
Montenegro 10.197 158 6.368
Maldives 10.014 34 8.673
Myanmar 9.991 198 2.681
French Guiana 9.863 65 9.500
Tajikistan 9.605 75 8.385
Finland 9.577 343 7.850
Gabon 8.728 54 7.934
Haiti 8.723 227 6.551
Slovakia 8.600 44 4.098
Luxembourg 8.311 124 6.976
Jordan 8.061 43 4.131
Zimbabwe 7.787 227 6.057
Mozambique 7.757 54 4.769
Mauritania 7.457 161 7.070
Uganda 7.364 71 3.647
Jamaica 5.854 88 1.624
Malawi 5.766 179 4.185
Cape Verde 5.701 56 5.018
Cuba 5.412 120 4.732
Djibouti 5.409 61 5.340
Swaziland 5.399 108 4.767
Slovenia 5.191 146 3.457
Nicaragua 5.073 149 2.913
Hong Kong 5.060 105 4.777
Equatorial Guinea 5.018 83 4.530
Democratic Republic Congo Brazzaville 5.005 89 3.887
Georgia 4.960 28 1.819
Suriname 4.817 102 4.596
Central African Republic 4.806 62 1.840
Rwanda 4.798 29 3.080
Angola 4.590 167 1.554
Guadeloupe 4.487 42 2.199
Lithuania 4.295 89 2.319
Trinidad and Tobago 4.285 70 2.185
Syria 4.038 188 1.048
Aruba 3.832 25 2.829
Bahamas 3.790 89 1.999
Réunion 3.685 11 2.819
Gambia 3.555 110 2.034
Mayotte 3.541 40 2.964
Thailand 3.522 59 3.362
Somalia 3.465 98 2.877
Sri Lanka 3.349 13 3.186
Estonia 3.165 64 2.499
Mali 3.080 130 2.410
Malta 2.958 31 2.304
Botswana 2.921 16 701
Guyana 2.709 73 1.490
South Sudan 2.676 49 1.290
Iceland 2.601 10 2.156
Benin 2.325 40 1.960
Guinea-Bissau 2.324 39 1.549
Sierra Leone 2.199 72 1.678
Yemen 2.030 587 1.260
Uruguay 1.967 47 1.710
Burkina Faso 1.962 56 1.263
Andorra 1.836 53 1.263
New Zealand 1.831 25 1.745
Belize 1.808 23 1.134
Togo 1.736 46 1.319
Cyprus 1.684 22 1.369
Latvia 1.654 36 1.304
French Polynesia 1.579 6 1.335
Lesotho 1.558 35 797
Liberia 1.338 82 1.221
Martinique 1.290 20 98
Niger 1.194 69 1.107
Chad 1.177 83 1.005
Vietnam 1.069 35 999
Sao Tome and Principe 911 15 881
San Marino 727 42 676
Diamond Princess 712 13 651
Turks and Caicos 680 5 617
Channel Islands 656 48 600
Sint Maarten 627 22 532
Papua New Guinea 532 7 516
Taiwan 510 7 480
Tanzania 509 21 183
Burundi 483 1 462
Comoros 474 7 453
Faeroe Islands 458 0 417
Eritrea 375 0 341
Gibraltar 372 0 335
Saint Martin 367 8 273
Mauritius 367 10 343
Isle of Man 340 24 314
Curaçao 337 1 134
Mongolia 313 0 303
Cambodia 275 0 274
Bhutan 263 0 199
Cayman Islands 210 1 207
Monaco 208 2 167
Barbados 190 7 175
Bermuda 181 9 167
Brunei 146 3 142
Seychelles 143 0 140
Liechtenstein 117 1 110
Antigua and Barbuda 98 3 92
Caribbean Netherlands 85 1 21
British Virgin Islands 71 1 62
Saint Vincent and the Grenadines 64 0 64
Macau 46 0 46
St. Barth 45 0 25
Fiji 32 2 28
Timor-Leste 27 0 27
Saint Lucia 27 0 27
New Caledonia 27 0 26
Grenada 24 0 24
Dominica 24 0 18
Laos 23 0 22
Saint Kitts and Nevis 19 0 17
Saint Pierre Miquelon 16 0 6
Greenland 14 0 14
Falkland Islands 13 0 13
Montserrat 13 1 12
Vatican City 12 0 12
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Anguilla 3 0 3
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/

(Nguồn: TTXVN)

Từ khóa:
id news:201350