Vàng Mua Bán
SJC HN 48,480 48,840
SJC HCM 48,480 48,820
DOJI AVPL / HN 48,500 48,700
DOJI AVPL / HCM 48,500 48,750
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,130.00 23,160.00
EUR 25,737.78 25,997.76
GBP 28,690.70 28,980.51
JPY 205.45 207.53
Chứng khoán
VNIndex 886.22 2.32 0.26%
HNX 118.08 0.66 0.56%
UPCOM 56.33 0.0 -0.01%

Thái Lan thành lập 8 nhóm đặc nhiệm để vực dậy ngành du lịch thời kỳ hậu COVID-19

PV (t/h) 19:16 | 18/04/2020

Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) dự báo quốc gia Đông Nam Á này có thể chỉ đón được 16 triệu lượt du khách quốc tế trong năm 2020, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu đặt ra từ trước khi bùng phát dịch COVID-19 là 40 triệu lượt.

Theo phóng viên TTXVN tại Bangkok, ước tính này cho thấy lượng du khách nước ngoài tới Thái Lan trong năm nay sẽ giảm 24 triệu lượt và "ngành công nghiệp không khói" thất thu 1.900 tỷ baht so với mức kỷ lục 39,8 triệu lượt năm 2019.

TAT cũng ước tính số lượng các chuyến du lịch nội địa ở Thái Lan trong năm nay chỉ đạt 60 triệu lượt, kém xa chỉ tiêu 172 triệu lượt đặt ra trước đó và thấp hơn hẳn so với mức 167 triệu chuyến của năm 2019. Tổng doanh thu từ du khách nước ngoài và du lịch nội địa năm 2020 chỉ đạt 1.120 tỷ baht, giảm 62,8% so với mức 3.010 tỷ baht năm 2019.

Du lịch là ngành đầu tiên ở Thái Lan phải hứng chịu tác động của dịch COVID-19.
Du lịch là ngành đầu tiên ở Thái Lan phải hứng chịu tác động của dịch COVID-19.

Truyền thông sở tại dẫn lời Tổng Cục trưởng TAT Yuthasak Supasorn cho biết báo cáo mới nhất này được đưa ra dựa trên giả định các hoạt động du lịch có thể nối lại vào tháng Năm khi mà dịch COVID-19 ở Thái Lan ổn định và số lượng các ca nhiễm ở nước ngoài giảm xuống.

Ông nhận định ngành du lịch Thái Lan cần theo dõi chặt chẽ tình hình trước khi bắt đầu hoạt động kinh doanh. Trong khi số lượng các ca nhiễm COVID-19 ở Thái Lan được ghi nhận theo ngày đang giảm, khu vực du lịch không thể mất cảnh giác. Thay vào đó, ngành cần chờ các cơ quan liên quan đưa ra ý kiến cuối cùng về việc khi nào dỡ bỏ phong tỏa hoặc các hạn chế đi lại.

TAT đã thành lập 8 nhóm đặc nhiệm với sự hợp tác của khu vực tư nhân nhằm cung cấp những giải pháp tức thì để giúp các công ty du lịch đứng lên. Các nhóm đặc nhiệm được chia ra hoạt động trong những lĩnh vực: xây dựng lại ngành du lịch, thị trường nội địa, thị trường khách xa, thị trường khách gần, truyền thông tiếp thị, và quản lý số và tổ chức....

Một yếu tố quan trọng là sức khỏe và an toàn, điều mà các công ty du lịch cần chuẩn bị trước, cũng như kế hoạch kích thích nhằm thúc đẩy khu vực này. Tổng Cục trưởng TAT Yuthasak cho biết những hướng dẫn tiêu chuẩn an toàn du lịch là một trong những nhiệm vụ cấp thiết mà TAT đang làm việc với Bộ Y tế.

Trong tháng này, các quy định về Quản lý An toàn và sức khỏe (SHA) sẽ sẵn sàng để thực hiện, điều sẽ giúp cho du khách lấy lại niềm tin trong khi đến thăm Thái Lan. Ngoài ra, TAT cũng có kế hoạch tập huấn lại những kỹ năng của các lao động trong khu vực du lịch.

Dự báo Thái Lan có thể chỉ đón được 16 triệu lượt du khách quốc tế trong năm 2020.
Dự báo Thái Lan có thể chỉ đón được 16 triệu lượt du khách quốc tế trong năm 2020.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Du lịch là động lực tăng trưởng của Thái Lan trong những năm gần đây. Trước khi bùng phát dịch COVID-19, quốc gia Đông Nam Á này hy vọng doanh thu từ du lịch sẽ đóng góp ít nhất 20% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong năm 2020.

Tuy nhiên, du lịch là ngành đầu tiên ở Thái Lan phải hứng chịu tác động của dịch COVID-19 ngay từ cuối tháng 1/2020. Tình hình càng trở nên tồi tệ hơn vào tháng 3/2020 khi Chính phủ Thái Lan áp đặt các hạn chế về đi lại nhằm kiểm soát sự lây lan của dịch COVID-19.

Số liệu vừa được Bộ Du lịch và thể thao Thái Lan công bố cho thấy doanh thu từ du lịch của nước này đã giảm gần 40% trong quý I/2020 xuống còn 335 tỷ baht (hơn 10 tỷ USD), thấp hơn 222 tỷ baht so với cùng kỳ năm ngoái.

Thống kê cho thấy lượng du khách nước ngoài tới Thái Lan trong quý vừa qua là 6,7 triệu lượt, giảm 38% so với cùng kỳ năm ngoái. Mức giảm sâu về lượng du khách nước ngoài tới Thái Lan trong tháng 3/2020 cho thấy tình hình càng khó khăn trong quý II/2020, khi nhiều hãng hàng không ngừng bay và các khách sạn đóng cửa.

Tính đến ngày 18/4, Thái Lan đã ghi nhận tổng cộng 2.733 ca nhiễm COVID-19, trong đó thủ đô Bangkok là địa phương có số ca nhiễm nhiều nhất.

Ngoài 47 trường hợp tử vong, Thái Lan đã điều trị thành công cho 1.787 bệnh nhân COVID-19. Bộ Y tế Thái Lan cho biết tỉ lệ tử vong vì COVID-19 ở nước này là 1,7%, thấp hơn 4 lần so với tỷ lệ trung bình toàn cầu, trong khi khi tỷ lệ bình phục là 62,5%.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

328

CA NHIỄM

0

CA TỬ VONG

298

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

6.721.797

CA NHIỄM

393.916

CA TỬ VONG

2.989.898

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Hà Nội 112 0 81
Hồ Chí Minh 56 0 54
Vĩnh Phúc 19 0 14
Ninh Bình 13 0 11
Bình Thuận 9 0 9
Quảng Ninh 7 0 7
Đà Nẵng 6 0 6
Hà Nam 4 0 4
Đồng Tháp 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 3
Bắc Giang 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Tây Ninh 3 0 3
Bạc Liêu 3 0 3
Quảng Nam 3 0 3
Cần Thơ 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Trà Vinh 2 0 2
Hà Giang 1 0 0
Bắc Ninh 1 0 1
Đồng Nai 1 0 0
Bến Tre 1 0 1
Hải Dương 1 0 1
Khánh Hoà 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hưng Yên 1 0 1
Thái Nguyên 1 0 0
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
US 1.893.934 108.996 485.002
Brazil 614.941 34.021 254.963
Russia 449.256 5.520 212.237
United Kingdom 284.734 40.344 1.227
Spain 240.978 27.134 150.376
India 236.184 6.649 113.231
Italy 234.531 33.774 163.781
France 190.180 29.114 70.622
Peru 187.400 5.162 79.214
Germany 184.924 8.658 168.480
Turkey 168.340 4.648 133.400
Iran 167.156 8.134 129.741
Chile 122.499 1.448 99.358
Mexico 105.680 12.545 74.758
Saudi Arabia 95.748 642 70.616
Canada 95.715 7.769 52.824
Pakistan 89.249 1.838 31.198
China 84.174 4.638 79.420
Qatar 65.495 49 40.935
Bangladesh 60.391 811 12.804
Belgium 58.907 9.566 16.112
Netherlands 47.358 6.024 181
Belarus 46.868 259 22.066
South Africa 43.434 908 23.088
Sweden 42.939 4.639 0
Ecuador 41.575 3.534 20.568
United Arab Emirates 37.642 274 20.337
Singapore 37.183 24 24.209
Colombia 35.240 1.142 12.952
Portugal 33.969 1.465 20.526
Egypt 31.115 1.166 8.158
Switzerland 30.936 1.921 28.600
Kuwait 30.644 244 18.277
Indonesia 29.521 1.770 9.443
Ukraine 26.542 770 11.815
Poland 25.410 1.137 12.410
Ireland 25.163 1.670 22.698
Philippines 20.626 987 4.330
Argentina 20.197 615 6.088
Romania 20.103 1.316 14.145
Afghanistan 18.969 309 1.762
Dominican Republic 18.708 525 11.736
Israel 17.562 291 15.026
Japan 16.958 916 14.925
Austria 16.843 672 15.742
Oman 15.086 72 3.451
Panama 15.044 363 9.619
Bahrain 13.835 22 8.585
Kazakhstan 12.312 52 6.903
Bolivia 12.245 415 1.658
Denmark 12.075 586 10.853
Armenia 11.817 183 3.513
Korea, South 11.668 273 10.506
Serbia 11.667 247 6.931
Nigeria 11.516 323 3.535
Algeria 9.935 690 6.453
Iraq 9.846 285 4.573
Czechia 9.520 327 6.880
Moldova 9.247 323 5.240
Ghana 9.168 42 3.457
Norway 8.510 238 8.138
Malaysia 8.266 116 6.610
Morocco 8.071 208 7.268
Cameroon 7.392 205 4.575
Australia 7.251 102 6.683
Finland 6.941 322 5.800
Azerbaijan 6.860 82 3.871
Guatemala 6.154 158 979
Honduras 5.880 243 648
Sudan 5.714 333 1.825
Tajikistan 4.370 48 2.491
Senegal 4.155 45 2.276
Djibouti 4.123 26 1.707
Guinea 4.060 23 2.667
Luxembourg 4.032 110 3.885
Uzbekistan 4.007 16 3.247
Hungary 3.970 542 2.245
Congo (Kinshasa) 3.764 81 512
Cote d'Ivoire 3.431 36 1.604
Thailand 3.102 58 2.971
Greece 2.967 180 1.374
Gabon 2.955 21 818
Nepal 2.912 11 333
El Salvador 2.849 53 1.249
North Macedonia 2.790 149 1.632
Haiti 2.740 50 24
Bulgaria 2.627 159 1.390
Bosnia and Herzegovina 2.606 159 1.968
Kenya 2.474 79 643
Croatia 2.247 103 2.113
Somalia 2.204 79 418
Cuba 2.133 83 1.848
Venezuela 2.087 20 334
Kyrgyzstan 1.936 22 1.340
Estonia 1.910 69 1.667
Maldives 1.883 7 717
Iceland 1.806 10 1.794
Ethiopia 1.805 19 262
Sri Lanka 1.801 11 858
Lithuania 1.694 71 1.302
Slovakia 1.526 28 1.379
New Zealand 1.504 22 1.481
Mali 1.485 87 816
Slovenia 1.479 109 1.359
Central African Republic 1.451 4 29
Guinea-Bissau 1.339 8 53
Lebanon 1.312 28 768
Equatorial Guinea 1.306 12 200
Costa Rica 1.228 10 695
Albania 1.212 33 910
Kosovo 1.142 30 871
Nicaragua 1.118 46 370
Zambia 1.089 7 912
Paraguay 1.087 11 516
Tunisia 1.087 49 969
Latvia 1.085 25 781
South Sudan 994 10 6
Madagascar 975 7 201
Niger 966 65 863
Cyprus 960 17 807
Sierra Leone 929 47 580
Burkina Faso 888 53 760
Mauritania 883 43 69
Andorra 852 51 741
Chad 836 68 657
Uruguay 832 23 709
Georgia 805 13 650
Jordan 784 9 571
Diamond Princess 712 13 651
San Marino 680 42 428
Congo (Brazzaville) 635 20 182
Malta 625 9 583
Jamaica 591 10 368
Uganda 557 0 82
Cabo Verde 536 5 239
Tanzania 509 21 183
Sao Tome and Principe 499 12 68
Togo 485 13 240
Yemen 469 111 23
West Bank and Gaza 464 3 377
Taiwan* 443 7 429
Rwanda 420 2 282
Malawi 409 4 55
Mozambique 354 2 119
Mauritius 337 10 324
Liberia 334 30 176
Vietnam 328 0 307
Montenegro 324 9 315
Eswatini 305 3 221
Benin 261 3 151
Zimbabwe 237 4 31
Burma 236 6 151
Libya 209 5 52
Mongolia 191 0 70
Guyana 153 12 77
Brunei 141 2 138
Comoros 132 2 55
Cambodia 125 0 123
Syria 124 6 53
Trinidad and Tobago 117 8 108
Bahamas 102 11 55
Monaco 99 4 92
Barbados 92 7 81
Suriname 90 1 9
Angola 86 4 21
Liechtenstein 82 1 55
Burundi 63 1 33
Bhutan 48 0 11
Botswana 40 1 23
Eritrea 39 0 39
Antigua and Barbuda 26 3 20
Saint Vincent and the Grenadines 26 0 15
Gambia 26 1 20
Namibia 25 0 16
Timor-Leste 24 0 24
Grenada 23 0 22
Laos 19 0 18
Saint Lucia 19 0 18
Dominica 18 0 16
Belize 18 2 16
Fiji 18 0 18
Saint Kitts and Nevis 15 0 15
Holy See 12 0 2
Seychelles 11 0 11
Western Sahara 9 1 6
MS Zaandam 9 2 0
Papua New Guinea 8 0 8
Lesotho 4 0 2
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/

(Nguồn: TTXVN)

Từ khóa:
id news:200014