Tăng trưởng tín dụng giữa các ngân hàng đang bị phân hoá mạnh mẽ

Thứ tư, 14/11/2018 | 13:33 GMT+7

NGUYỄN DUY

Trong khi Eximbank, Kienlongbank, SHB không có tăng trưởng về cho vay khách hàng thì BIDV tăng 4,9%, Vietinbank tăng 2,6% và Vietcombank 3,5%.

Khoảng cách lớn

Theo nghiên cứu của Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt-VDSC, kết thúc tháng 9/2018, tăng trưởng tín dụng của 14 ngân hàng niêm yết đạt 11%, tức tổng tăng trưởng tín dụng trong quý III của nhà băng niêm yết đạt xấp xỉ 2%.

Mức tăng trưởng tín dụng trong quý III có sự phân hóa. Theo đó, những ngân hàng hầu như không tăng trưởng xét về chỉ tiêu cho vay khách hàng là những ngân hàng nhỏ như Eximbank, Kienlongbank, SHB. Ở chiều ngược lại, các ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn có mức tăng trưởng tín dụng khả quan so với mức bình quân của các ngân hàng niêm yết.

Kienlongban hầu như không tăng trưởng, nếu xét về chỉ tiêu cho vay khách hàng.
Kienlongban hầu như không tăng trưởng, nếu xét về chỉ tiêu cho vay khách hàng.

Cụ thể, BIDV tăng 4,9%, Vietinbank tăng 2,6% và Vietcombank 3,5%. Với đặc điểm là ngân hàng có sở hữu Nhà nước, các ngân hàng quốc doanh còn có vai trò hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước trong việc bình ổn thị trường tiền tệ.

VDSC cho rằng, để giúp Ngân hàng Nhà nước ổn định lãi suất như mục tiêu xuyên suốt của năm 2018, không loại trừ khả năng có một lượng tín dụng lớn được cấp cho các lĩnh vực có vai trò lớn trong nền kinh tế. Để bù đắp, lượng tiền gửi tại BIDV, Vietcombank và Vietinbank cũng tăng hơn 16% so với thời điểm cuối quý II.

Với đặc điểm hoạt động cho vay phụ thuộc lớn vào các doanh nghiệp đầu ngành trong lĩnh vực sản xuất, tiêu dùng và hàng không, tăng trưởng tín dụng của Techcombank cũng tăng mạnh trong quý III và đạt 12,6%.

Mức tăng trưởng mạnh trong quý III năm 2018 của Techcombank chủ yếu được đóng góp bởi sự tăng lên của trái phiếu doanh nghiệp. VDSC cho rằng, tín dụng trong quý III năm 2018 của Techcombank phần lớn được cấp cho các doanh nghiệp nêu trên. Techcombank cũng là trường hợp đầu tiên công bố được tăng hạn mức tín dụng năm 2018 lên 20% từ hạn mức 15% trước đó.

Nhóm ngân hàng niêm yết mà VDSC thống kê chiếm hơn 50% thị phần tín dụng toàn ngành. Do vậy, dù không có số liệu chính thức của Ngân hàng Nhà nước về mức tăng trưởng tín dụng trong 9 tháng đầu năm 2018, VDSC vẫn đưa ra mức tăng chung của ngành cũng xoay quanh mức 11%.

Như vậy, cho quý cuối năm thì ngành ngân hàng còn khoảng 391.000 tỷ đồng tín dụng để cho vay ra nền kinh tế trong quý IV. So sánh với nhu cầu vốn trong quý IV của các năm liền trước thì VDSC cho rằng hạn mức trên sẽ đủ đáp ứng nhu cầu tín dụng của toàn nền kinh tế .

Theo đó, VDSC nhận định, mức tăng trưởng tín dụng cả năm 2018 sẽ xoay quanh mức 16,5-17%. Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng sẽ phân hóa giữa các ngân hàng, tùy thuộc vào sức khỏe tài chính và đầu ra cho dòng vốn.

Giảm dự phòng rủi ro

Kết thúc 9 tháng đầu năm 2018, tổng lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng niêm yết tăng trưởng hơn 28%. Ngoại trừ VPBank thì hầu hết các ngân hàng đã hoàn thành hơn 3/4 mục tiêu lợi nhuận cho cả năm 2018.

Tuy nhiên, tăng trưởng tổng thu nhập hoạt động mà VDSC thống kê chỉ đạt hơn 22%. Điều này cho thấy lợi nhuận tăng trưởng mạnh trong năm 2018 chủ yếu nhờ các khoản chi phí. Trong đó đáng kể nhất là chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đã giảm đáng kể ở một số ngân hàng như ACB, Techcombank, Kienlongbank...

Một số ngân hàng khác ghi nhận tăng trưởng thu nhập cao nhờ thu nhập bất thường từ phí độc quyền bảo hiểm chẳng hạn. Trong khi đó, thu nhập lãi, yếu tố đóng góp hơn 70% thu nhập của ngân hàng chỉ tăng trưởng khoảng 16% và khả năng tăng trưởng mạnh trong năm 2019 là khó khả thi khi mà Ngân hàng Nhà nước siết dần mức tăng trưởng tín dụng.

MBBank phải tăng chi phí dự phòng rủi ro vì mở rộng sang mảng cho vay không tài sản đảm bảo là MCredit. 
MBBank phải tăng chi phí dự phòng rủi ro vì mở rộng sang mảng cho vay không tài sản đảm bảo là MCredit. 

Do vậy, VDSC cho rằng các ngân hàng có nền tăng trưởng cao trong năm 2018, nhờ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm và ghi nhận lợi nhuận đột biến, sẽ khó có khả năng tiếp tục tăng trưởng mạnh trong năm 2019.

Một số ngân hàng khác, dự kiến sẽ hoàn thành nghĩa vụ trích lập dự phòng rủi ro trái phiếu đặc biệt, thì vẫn có khả năng tăng tưởng cao trong năm 2019. Bức tranh tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng do đó nhìn chung sẽ có sự phân hóa trong năm 2019.

Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm mạnh ở các ngân hàng đã mua lại toàn bộ trái phiếu VAMC trong năm 2017 như ACB và Techcombank. Ở chiều ngược lại, chi phí trích lập dự phòng rủi ro vẫn tăng mạnh ở các ngân hàng như BIDV, Vietinbank, MBBank và VPBank.

Đối với trường hợp của BIDV và Vietinbank, nguyên nhân do trích lập dự phòng rủi ro cho cả trái phiếu đặc biệt và VAMC. Trong khi xu hướng trích lập dự phòng rủi ro ở trường hợp của Vietinbank khớp với kỳ vọng của VDSC, rằng ngân hàng này sẽ mạnh tay trích lập dự phòng rủi ro nợ nội bảng sau khi mua lại toàn bộ trái phiếu đặc biệt trong nửa đầu năm 2018.

Đối với trường hợp MBBank và VPBank, VDSC cho rằng chi phí dự phòng rủi ro tăng mạnh bởi lẽ cả hai ngân hàng cùng mở rộng sang mảng cho vay không tài sản đảm bảo. Cụ thể là MCredit đối với MBBank và CommCredit đối với VPBank.

So sánh với mức PB bình quân của các ngân hàng trong khu vực, định giá các ngân hàng Việt Nam là không rẻ. Trong bối cảnh chính sách tiền tệ trong nước đang dần thắt chặt và dòng vốn đầu tư nước ngoài đang có khuynh hướng đảo chiều so với giai đoạn cuối năm 2017, thì mức định giá cao tương đối so với khu vực sẽ khiến các ngân hàng Việt Nam trở nên kém hấp dẫn với dòng tiền hơn.

Tuy nhiên, điểm tích cực là so với mức biến động PB bình quân trong ba năm của các ngân hàng niêm yết, chỉ tiêu về PB cho thấy định giá của các ngân hàng đang ở mức hợp lý hợp lý hơn so với giai đoạn bùng nổ đầu năm. Do vậy, VDSC cho rằng việc đầu tư cổ phiếu ngân hàng ở thời điểm hiện tại sẽ phù hợp cho mục tiêu dài hạn hơn là cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn.

Từ khóa: