Vàng Mua Bán
SJC HN 48,520 48,920
SJC HCM 48,520 48,900
DOJI AVPL / HN 48,550 48,800
DOJI AVPL / HCM 48,550 48,800
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,160.00 23,190.00
EUR 25,156.07 25,410.17
GBP 27,967.57 28,250.07
JPY 209.53 211.65
Chứng khoán
VNIndex 864.47 3.08 0.36%
HNX 109.81 0.17 0.16%
UPCOM 55.03 0.02 0.03%

Ông Trump xem xét mở cửa trở lại nền kinh tế Mỹ bất chấp dịch COVID-19 lan rộng

P.V 11:21 | 24/03/2020

Ông Trump ngày 23/3 cho biết ông đang xem xét sẽ mở cửa trở lại nền kinh tế Mỹ như thế nào khi thời gian đóng cửa kéo dài 15 ngày sẽ kết thúc vào tuần tới.

Theo tổng thống Mỹ, ông quyết định mở cửa nền kinh tế kể cả khi dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 đang lây lan nhanh chóng và các bệnh viện đang chống chọi với số ca tử vong do dịch COVID-19 gia tăng.

Theo Reuters, phát biểu tại một cuộc họp báo ở Nhà Trắng, ông Trump cho biết nước Mỹ sẽ sớm mở cửa trở lại các hoạt động kinh doanh, đồng thời nhấn mạnh: "Chúng tôi sẽ không để tình hình này trở thành một vấn đề tài chính kéo dài”.

Ông Trump họp báo ở Nhà Trắng.
Ông Trump họp báo ở Nhà Trắng.

Một tuần trước, Tổng thống Trump đã ban hành hướng dẫn nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19 trong 15 ngày, trong đó có hạn chế hoạt động đi lại không cần thiết. Cùng lúc đó, hoạt động kinh tế đã thưa dần ở nhiều bang.

Tuy nhiên, nhìn vào tình trạng nhiều việc làm bị cuốn đi và thị trường chứng khoán lao dốc, Tổng thống Trump đã bày tỏ lo ngại về tác động của các biện pháp giới hạn nói trên đối với thể trạng trong dài hạn của nền kinh tế.

Viết trên trang Twitter cá nhân mới đấy, ông Trump cho biết khi thời kỳ đóng cửa 15 ngày kết thúc, chính phủ sẽ quyết định hướng đi tiếp theo.Những ngày qua, nhiều cố vấn chính sách kinh tế đã bắt đầu tập trung vào vấn đề các biện pháp nhằm ngăn chặn dịch bệnh cần kéo dài bao lâu.

Có ý kiến cho rằng nếu tình hình đóng cửa kinh doanh hiện nay tiếp tục kéo dài, kinh tế Mỹ sẽ rơi vào suy thoái.

Tuy vậy, Thượng nghị sỹ Cộng hòa Lindsey Graham cảnh báo không nên dỡ bỏ các quy định ngăn chặn dịch bệnh quá sớm vì lo ngại cho nền kinh tế. Theo bà Graham, trọng tâm chính bây giờ là đảm bảo dịch bệnh được ngăn chặn và đẩy lùi.

Chính quyền của Tổng thống Trump đã và đang tăng cường các biện pháp chính sách tiền tệ mạnh mẽ để ngăn chặn tác động kinh tế của dịch bệnh. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ ngày 23/3 đưa ra một loạt chương trình chưa từng có trước đây nhằm hỗ trợ nền kinh tế.

Các chỉ số chứng khoán Âu-Mỹ chốt phiên 23/3 giảm điểm mạnh, thậm chí sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thông báo các biện pháp mới nhằm hỗ trợ nền kinh tế khi thiệt hại do cuộc khủng hoảng COVID-19 gây ra tiếp tục tăng.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Chỉ số Dow Jones giảm 582,05 điểm, hay 3,04%, xuống 18.591,93 điểm. Chỉ số S&P 500 để mất 67,52 điểm, hay 2,93%, xuống 2.237,4 điểm. Chỉ số Nasdaq Composite giảm 18,84 điểm, hay 0,27%, xuống 6.860,67 điểm.

Giá cổ phiếu của United Technologies để mất 9,18%, mức giảm mạnh nhất trong chỉ số Dow Jones. Trong phiên, có thời điểm chỉ số này giảm 960 điểm. Trong khi đó, giá cổ phiếu của Boeing tăng hơn 11%, là mã tăng mạnh nhất trong chỉ số gồm 30 mã này. 

Trong phiên này, 10 trong 11 lĩnh vực của chỉ số S&P 500 giảm điểm, với năng lượng giảm 6,65%, lĩnh vực giảm mạnh nhất. Trong khi đó, lĩnh vực tiêu dùng tăng 0,35%, nhóm duy nhất tăng trong chỉ số này. 

Trước đó, Fed đã tuyên bố sẽ mua không giới hạn một lượng trái phiếu kho bạc và chứng khoán được thế chấp, và mở ba cơ sở mới để mua nợ của các công ty, giúp các thị trường hoạt động hiệu quả hơn trong bối cảnh dịch bệnh.

Hồi giữa tháng, Fed đã hạ lãi suất khẩn cấp lần thứ hai trong vòng hai tuần, đưa lãi suất xuống gần 0%. Ngân hàng này cũng triển khai chương trình nới lỏng định lượng, cam kết tăng lượng trái phiếu nắm giữ thêm ít nhất 700 tỷ USD, nhằm duy trì lãi suất dài hạn ở mức thấp và bơm thanh khoản cho các thị trường vốn. 

Các thị trường chứng khoán châu Âu phiên này cũng giảm điểm. Chỉ số FTSE 100 của thị trường London giảm 3,8%, xuống 4.993,89 điểm. Chỉ số DAX 30 của Frankfurt sụt 2,1%, xuống 8.741,15 điểm. Chỉ số CAC 40 của Paris giảm 3,3%, xuống 3.914,31 điểm. Chỉ số EURO STOXX 50 để mất 2,5%, xuống 2.485,54 điểm. 

Ở trong nước, kết thúc phiên giao dịch ngày 23/3, VN - Index giảm tới 43,14 điểm (tương ứng hơn 6%) xuống còn 666,59 điểm. Toàn sàn có tới 363 mã giảm giá; trong đó có tới 193 mã giảm sản. Chỉ còn 40 mã tăng giá và 21 mã đứng ở giá tham chiếu.

HNX - Index cũng giảm 5,33 điểm (tương ứng 5,24%) xuống 96,46 điểm. Toàn sàn có tới 149 mã giảm giá; trong đó có 74 mã giảm sàn. Chỉ còn 34 mã tăng giá và 18 mã đứng ở mức giá tham chiếu.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

328

CA NHIỄM

0

CA TỬ VONG

268

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

6.063.994

CA NHIỄM

369.244

CA TỬ VONG

2.566.272

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Hà Nội 112 0 81
Hồ Chí Minh 56 0 54
Vĩnh Phúc 19 0 14
Ninh Bình 13 0 11
Bình Thuận 9 0 9
Quảng Ninh 7 0 7
Đà Nẵng 6 0 6
Hà Nam 4 0 4
Đồng Tháp 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 3
Bắc Giang 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Tây Ninh 3 0 3
Bạc Liêu 3 0 3
Quảng Nam 3 0 3
Cần Thơ 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Trà Vinh 2 0 2
Hà Giang 1 0 0
Bắc Ninh 1 0 1
Đồng Nai 1 0 0
Bến Tre 1 0 1
Hải Dương 1 0 1
Khánh Hoà 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hưng Yên 1 0 1
Thái Nguyên 1 0 0
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
US 1.770.384 103.781 416.461
Brazil 498.440 28.834 200.892
Russia 396.575 4.555 167.469
United Kingdom 274.219 38.458 1.187
Spain 239.228 27.125 150.376
Italy 232.664 33.340 155.633
France 188.752 28.774 68.386
Germany 183.189 8.530 164.908
India 182.143 5.185 86.984
Turkey 163.103 4.515 126.984
Peru 155.671 4.371 66.447
Iran 148.950 7.734 116.827
Chile 94.858 997 40.431
Canada 91.681 7.159 48.517
Mexico 87.512 9.779 61.247
China 84.128 4.638 79.386
Saudi Arabia 83.384 480 58.883
Pakistan 69.496 1.483 25.271
Belgium 58.186 9.453 15.769
Qatar 55.262 36 25.839
Netherlands 46.460 5.970 178
Bangladesh 44.608 610 9.375
Belarus 41.658 229 17.964
Ecuador 38.571 3.334 19.190
Sweden 37.113 4.395 4.971
Singapore 34.366 23 20.727
United Arab Emirates 33.896 262 17.546
Portugal 32.203 1.396 19.186
South Africa 30.967 643 16.116
Switzerland 30.845 1.919 28.400
Colombia 27.219 916 7.032
Kuwait 26.192 205 10.156
Indonesia 25.773 1.573 7.015
Ireland 24.929 1.651 22.089
Poland 23.571 1.061 11.016
Egypt 23.449 913 5.693
Ukraine 23.204 696 9.311
Romania 19.133 1.259 13.046
Philippines 17.224 950 3.808
Israel 17.012 284 14.811
Dominican Republic 16.908 498 9.557
Japan 16.716 894 14.269
Austria 16.685 668 15.520
Argentina 16.214 528 4.788
Afghanistan 14.525 249 1.303
Panama 13.018 330 9.414
Denmark 11.833 571 10.525
Korea, South 11.468 270 10.405
Serbia 11.381 242 6.606
Kazakhstan 10.858 38 5.220
Bahrain 10.793 17 5.826
Oman 10.423 42 2.396
Nigeria 9.855 273 2.856
Bolivia 9.592 310 889
Algeria 9.267 646 5.549
Czechia 9.230 319 6.546
Armenia 8.927 127 3.317
Norway 8.437 236 7.727
Moldova 8.098 291 4.455
Morocco 7.780 204 5.401
Ghana 7.768 35 2.540
Malaysia 7.762 115 6.330
Australia 7.195 103 6.614
Finland 6.826 316 5.500
Iraq 6.179 195 3.110
Cameroon 5.904 191 3.568
Azerbaijan 5.246 61 3.327
Honduras 5.094 201 536
Sudan 4.800 262 1.272
Guatemala 4.739 102 706
Luxembourg 4.016 110 3.815
Hungary 3.867 524 2.142
Tajikistan 3.807 47 1.865
Guinea 3.706 23 2.030
Uzbekistan 3.554 14 2.783
Senegal 3.535 42 1.761
Djibouti 3.194 22 1.286
Thailand 3.081 57 2.963
Congo (Kinshasa) 2.966 69 428
Greece 2.915 175 1.374
Cote d'Ivoire 2.799 33 1.385
Gabon 2.655 17 722
El Salvador 2.517 46 1.040
Bulgaria 2.499 139 1.064
Bosnia and Herzegovina 2.494 153 1.831
Croatia 2.246 103 2.063
North Macedonia 2.164 131 1.535
Cuba 2.025 83 1.795
Somalia 1.916 73 327
Kenya 1.888 63 464
Haiti 1.865 41 24
Estonia 1.865 67 1.622
Iceland 1.806 10 1.794
Kyrgyzstan 1.748 16 1.170
Maldives 1.672 5 406
Lithuania 1.670 70 1.229
Sri Lanka 1.620 10 781
Slovakia 1.521 28 1.356
New Zealand 1.504 22 1.481
Slovenia 1.473 108 1.357
Venezuela 1.459 14 302
Nepal 1.401 6 219
Equatorial Guinea 1.306 12 200
Guinea-Bissau 1.256 8 42
Mali 1.250 76 696
Lebanon 1.191 26 708
Albania 1.122 33 857
Tunisia 1.076 48 950
Latvia 1.065 24 745
Kosovo 1.064 30 829
Ethiopia 1.063 8 208
Zambia 1.057 7 779
Costa Rica 1.047 10 658
South Sudan 994 10 6
Paraguay 964 11 466
Central African Republic 962 1 23
Niger 956 64 818
Cyprus 944 17 790
Sierra Leone 852 46 415
Burkina Faso 847 53 720
Uruguay 821 22 682
Andorra 764 51 692
Chad 759 65 470
Nicaragua 759 35 370
Madagascar 758 6 165
Georgia 757 12 600
Jordan 734 9 507
Diamond Princess 712 13 651
San Marino 671 42 357
Malta 618 9 525
Jamaica 581 9 290
Congo (Brazzaville) 571 19 161
Tanzania 509 21 183
Mauritania 483 20 21
Sao Tome and Principe 479 12 68
West Bank and Gaza 447 3 368
Taiwan* 442 7 421
Togo 433 13 206
Cabo Verde 421 4 167
Uganda 413 0 72
Rwanda 359 1 250
Mauritius 335 10 322
Vietnam 328 0 279
Montenegro 324 9 315
Yemen 310 77 13
Eswatini 283 2 168
Liberia 280 27 148
Malawi 279 4 42
Mozambique 244 2 90
Burma 224 6 130
Benin 224 3 136
Mongolia 179 0 44
Zimbabwe 174 4 29
Guyana 152 12 67
Brunei 141 2 138
Libya 130 5 50
Cambodia 125 0 123
Syria 122 4 43
Trinidad and Tobago 117 8 108
Comoros 106 2 26
Bahamas 102 11 48
Monaco 99 4 90
Barbados 92 7 76
Angola 84 4 18
Liechtenstein 82 1 55
Burundi 63 1 33
Bhutan 43 0 6
Eritrea 39 0 39
Botswana 35 1 20
Saint Vincent and the Grenadines 26 0 15
Antigua and Barbuda 25 3 19
Gambia 25 1 20
Timor-Leste 24 0 24
Namibia 23 0 14
Grenada 23 0 18
Laos 19 0 16
Fiji 18 0 15
Belize 18 2 16
Saint Lucia 18 0 18
Dominica 16 0 16
Saint Kitts and Nevis 15 0 15
Suriname 14 1 9
Holy See 12 0 2
Seychelles 11 0 11
MS Zaandam 9 2 0
Western Sahara 9 1 6
Papua New Guinea 8 0 8
Lesotho 2 0 1
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/
Từ khóa:
id news:198164