Vàng Mua Bán
SJC HN 55,200 55,720
SJC HCM 55,200 55,700
DOJI AVPL / HN 55,200 55,700
DOJI AVPL / HCM 55,200 55,700
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,070.00 23,100.00
EUR 26,390.14 26,656.71
GBP 29,082.28 29,376.04
JPY 212.68 214.83
Chứng khoán
VNIndex 912.5 4.23 0.46%
HNX 133.12 0.0 0.0%
UPCOM 61.78 0.49 0.8%

Người tiêu dùng Mỹ quay lưng với hàng Trung Quốc

NGỌC CHÂU 09:12 | 18/07/2020

Tình trạng những kệ bán khẩu trang trống rỗng và chứng kiến những y bác sĩ tuyến đầu chống dịch thiếu thiết bị bảo hộ cá nhân trong mùa dịch đã tạo nên cách suy nghĩ mới của người tiêu dùng Mỹ. Họ quay lưng với hàng xuất xứ từ Trung Quốc, theo kết quả nghiên cứu của công ty nghiên cứu Coresight.

Theo Forbes. một nửa người tiêu dùng Mỹ giờ đây đồng tình rằng các nhà bán lẻ Mỹ nên cắt đứt nguồn hàng hóa từ Trung Quốc, trong khi chỉ 20% phản đối. 2/5 khách hàng tại Mỹ cho rằng dịch bệnh đang khiến họ ngần ngại mua hàng Trung Quốc hơn.

“Đây là dấu hiệu cho thấy các nhà bán lẻ Mỹ cần xem lại sự phụ thuộc của mình vào công xưởng sản suất là Trung Quốc,” theo nghiên cứu có tựa đề “Người tiêu dùng quay lưng với hàng Made in China”. Kết quả nghiên cứu thể hiện được tình trạng thiếu niềm tin của bộ phận người tiêu dùng Mỹ với sản phẩm Trung Quốc như một hậu quả của dịch bệnh. 

Trên các nhóm tuổi khác nhau, ít nhất 2% người tiêu dùng cho biết họ đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý rằng các nhà bán lẻ Mỹ nên giảm mua từ Trung Quốc, với tỷ lệ tăng lên tới 1/5 trong số những người tiêu dùng từ 60 tuổi trở lên, kết quả cho thấy. 

Khảo sát cũng chỉ ra những trở ngại ngành bán lẻ Mỹ phải đối mặt khi kinh tế mở cửa trở lại: Hơn 3/5 người tiêu dùng dự đoán khủng hoảng hiện tại sẽ kéo dài hơn 6 tháng.

  Dịch bệnh bùng phát đã một lần nữa nhấn mạnh những điểm yếu của chuỗi cung toàn cầu, vốn theo đuổi chiến lược chi phí thấp và phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Ảnh: Getty.

Dịch bệnh bùng phát đã một lần nữa nhấn mạnh những điểm yếu của chuỗi cung toàn cầu, vốn theo đuổi chiến lược chi phí thấp và phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Ảnh: Getty.

Sự bùng phát của COVID-19 một lần nữa nhấn mạnh các lỗ hổng mà chuỗi cung ứng toàn cầu vốn theo đuổi chiến lược chi phí thấp và phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, nơi được biết tới là công xưởng của thế giới và là nguồn hàng hoá lớn nhất nhập khẩu vào Mỹ. 

“Đại dịch đang khiến nhiều người chú ý tới cách Mỹ và các nền kinh tế khác phụ thuộc vào các mắt xích chuỗi cung và sản xuất trọng yếu đặt tại Trung Quốc,” theo báo báo từ Vụ Khảo cứu quốc hội Mỹ ra mắt hồi tháng 4 vừa qua.

Báo cáo cũng cho thấy Trung Quốc đang chuyển qua kiểm soát nguồn cung thiết bị y tế và hiện đang làm việc với các doanh nghiệp như 3M, GM và nhiều công ty Mỹ khác để sản xuất cho nhu cầu trong nước và hạn chế xuất khẩu các sản phẩm y tế sang Mỹ. 

Báo cáo cho biết, động thái của họ là mua nguồn cung cấp trên thị trường toàn cầu, trước khi COVID-19 leo thang thành một cuộc khủng hoảng đại dịch trên toàn thế giới có khả năng cũng làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nguồn cung y tế ở Mỹ và các quốc gia khác.

Báo cáo nghiên cứu của Quốc hội Mỹ cho biết, hàng nhập khẩu hàng đầu của Mỹ từ Trung Quốc cũng bao gồm máy tính và điện thoại di động, thiết bị, đồ nội thất, đồ chơi, giày dép và quần áo.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Bên ngoài Trung tâm thương mại tại Mỹ.
Bên ngoài Trung tâm thương mại tại Mỹ.

Giá trị nhập khẩu hàng Trung Quốc tại Mỹ đã tăng 5 lần kể từ năm 2001 lên 540 tỉ USD trong năm 2018, con số cao gấp đôi kim ngạch xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc trong cùng năm. Trung Quốc chiếm khoảng 20% lượng hàng nhập khẩu của Mỹ, theo thông tin của Đại diện Thương mại Mỹ. 

Tình trạng thiếu hụt nguồn cung thiết bị y tế đã khiến nhiều công ty Mỹ và công ty đa quốc gia, chẳng hạn như doanh nghiệp bia Anheuser-Busch sở hữu hãng Budweiser, công ty mẹ HanesBrands của hãng thời trang Champion, thậm chí cả các ông lớn ngành thời trang như tập đoàn hàng xa xỉ LVMH và Inditex - công ty mẹ của Zara chuyển sang sản xuất nước rửa tay và khẩu trang. 

Trong khi đó, nỗi sợ thiếu nguồn cung thuốc đã khiến nhiều người tiêu dùng bỏ tiền ra mua lượng thuốc đủ dùng cho cả năm, theo hãng bán lẻ Costco nhận xét. 

Các hãng thời trang phải đóng cửa do đại dịch COVID-19 bùng phát tại Mỹ.
Các hãng thời trang phải đóng cửa do đại dịch COVID-19 bùng phát tại Mỹ.

Khi suy nghĩ của người tiêu dùng thay đổi, nhiều công ty bắt đầu tìm kiếm phương thức để đa dạng hoá nguồn cung của mình ra ngoài Trung Quốc. Họ cũng nghĩ tới việc đem dây chuyền sản xuất về Mỹ, một diễn biến vốn đang rục rịch diễn ra khi chiến tranh thương mại Mỹ và Trung Quốc nổ ra. 

Một điểm đáng chú ý là sự chú ý của người tiêu dùng hiện đang chuyển sang dùng hàng nội địa: 10.000 kết quả tìm kiếm trên trang thương mại điện tử Amazon có đi kèm cụm từ Made in USA, trong khi nhiều người bán cũng rao bán sản phẩm bằng cách nhấn mạnh từ khoá này.

Ngày 17/7, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ghi nhận số ca nhiễm virus COVID-19 trong ngày ở mức cao chưa từng thấy, với tổng cộng 237.743 ca trong vòng 24h qua. 

Theo báo cáo hằng ngày, mức tăng lớn nhất này chủ yếu từ các nước như Mỹ, Brazil, Ấn Độ và Nam Phi. Kỷ lục trước đó được WHO ghi nhận là vào hôm 12/7 với 230.370 ca nhiễm/ngày.    

Trong khi đó, theo số liệu thống kê của trang worldometers.info, cập nhật đến gần 8h sáng 18/7 (theo giờ Việt Nam), tổng số ca nhiễm COVID-19 trên toàn cầu là 14.176.334 ca, trong đó có 598.450 người từ vong. Việc số ca nhiễm trên toàn cầu vượt mốc 14 triệu người và số ca tử vong lên tới gần 600.000 người đánh dấu cột mốc mới trong quá trình lây lan của dịch bệnh.

Tại Mỹ, các nhóm quân y đã được triển khai tới các bang Texas và California để hỗ trợ các bệnh viện có đông bệnh nhân COVID-19, trong bối cảnh nhà chức trách Miami (bang Florida) ngày 17/7 bắt đầu tăng cường giám sát việc tuân thủ quy định đeo khẩu trang, biện pháp có hiệu quả trong biệc hạn chế số ca mắc COVID-19 gia tăng ở nhiều nơi trên thế giới.   

Ở Califonia, các chuyên gia y tế, bác sĩ, y tá quân y đã được triển khai tới 8 bệnh viện đang đối mặt với tình trạng thiếu nhân viên giữa lúc số ca bệnh đã phá kỷ lục. Tại thành phố Houston, một nhóm quân y gồm 86 người đã tiếp quản một khu vực trong Trung tâm Y tế United Memorial.   

Một số bang đã ghi nhận số ca mắc COVID-19 kỷ lục trong tuần này, góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong trên cả nước Mỹ. Tính trung bình trong 7 ngày qua, số ca tử vong trong ngày do COVID-19 đã tăng 34% so với 2 tuần trước đó, mặc dù số ca mắc trong gia đoạn đó tăng vọt 43%.

Bang Florida đã ghi nhận 128 người tử vong và 11.345 ca nhiễm trong ngày 17/7. Texas ghi nhận 10.000 ca mắc mới ngày thứ 3 lên tiếp và 129 ca tử vong. California ghi nhân tổng số ca nhiễm trong 2 ngày lớn nhất với gần 20.000 ca mắc và 258 ca tử vong trong 48h.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1077

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

999

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

33.542.877

CA NHIỄM

1.006.121

CA TỬ VONG

24.871.996

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 394 31 360
Hà Nội 162 0 160
Quảng Nam 101 3 96
Hồ Chí Minh 77 0 77
Bà Rịa - Vũng Tàu 47 0 35
Thái Bình 31 0 31
Bạc Liêu 27 0 27
Hải Dương 25 0 23
Ninh Bình 23 0 23
Vĩnh Phúc 19 0 19
Khánh Hòa 19 0 15
Thanh Hóa 18 0 18
Quảng Ninh 11 0 11
Bắc Giang 10 0 9
Bình Thuận 9 0 9
Nam Định 8 0 7
Quảng Ngãi 7 0 7
Quảng Trị 7 1 3
Tây Ninh 7 0 7
Hưng Yên 6 0 5
Hoà Bình 6 0 6
Đồng Tháp 6 0 6
Bình Dương 6 0 1
Hà Nam 5 0 5
Trà Vinh 5 0 5
Cần Thơ 5 0 3
Lạng Sơn 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 4
Hải Phòng 3 0 3
Đồng Nai 3 0 3
Thanh Hoá 3 0 2
Phú Thọ 3 0 1
Đắk Lắk 3 0 3
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Hà Giang 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Bắc Ninh 1 0 1
Thái Nguyên 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 7.361.611 209.808 4.609.636
India 6.143.019 96.351 5.098.573
Brazil 4.748.327 142.161 4.084.182
Russia 1.159.573 20.385 945.920
Colombia 818.203 25.641 722.536
Peru 808.714 32.324 670.989
Spain 748.266 31.411 0
Mexico 730.317 76.430 523.831
Argentina 723.132 16.113 576.715
South Africa 671.669 16.586 604.478
France 542.639 31.808 95.426
Chile 459.671 12.698 433.016
Iran 449.960 25.779 376.531
United Kingdom 439.013 42.001 0
Bangladesh 360.555 5.193 272.073
Iraq 353.566 9.052 284.784
Saudi Arabia 333.648 4.712 317.846
Turkey 315.845 8.062 277.052
Italy 311.364 35.851 225.190
Pakistan 310.841 6.466 296.022
Philippines 307.288 5.381 252.665
Germany 288.618 9.545 252.400
Indonesia 278.722 10.473 206.870
Israel 233.265 1.507 165.191
Ukraine 201.305 3.996 88.453
Canada 155.301 9.278 132.607
Ecuador 134.965 11.280 112.296
Bolivia 133.901 7.858 93.791
Qatar 125.311 214 122.209
Romania 123.944 4.748 99.344
Morocco 119.107 2.113 97.468
Netherlands 114.540 6.380 0
Belgium 114.179 9.980 19.275
Dominican Republic 111.666 2.098 86.422
Panama 111.277 2.348 87.695
Kazakhstan 107.775 1.699 102.736
Kuwait 103.981 605 95.511
Egypt 102.955 5.901 95.586
Oman 98.057 924 88.234
United Arab Emirates 92.095 413 81.462
Sweden 90.923 5.880 0
Guatemala 90.263 3.234 79.067
Poland 88.636 2.447 68.420
China 85.372 4.634 80.553
Japan 82.131 1.548 74.990
Belarus 77.946 822 74.167
Honduras 75.109 2.289 26.374
Nepal 74.745 481 54.640
Portugal 74.029 1.957 47.884
Ethiopia 73.944 1.177 30.753
Costa Rica 73.714 861 29.420
Venezuela 72.691 606 62.427
Bahrain 69.848 245 63.549
Czech Republic 65.883 618 31.799
Nigeria 58.460 1.111 49.895
Singapore 57.715 27 57.393
Uzbekistan 55.776 460 52.324
Switzerland 52.646 2.065 42.700
Algeria 51.213 1.719 35.962
Moldova 51.194 1.301 38.217
Armenia 49.574 957 43.665
Ghana 46.444 299 45.646
Kyrgyzstan 46.355 1.064 42.613
Austria 43.432 790 34.052
Azerbaijan 40.061 588 37.725
Paraguay 39.432 818 23.063
Afghanistan 39.233 1.455 32.642
Palestine 39.121 299 30.220
Kenya 38.168 700 24.681
Lebanon 37.272 351 16.676
Ireland 35.377 1.802 23.364
Serbia 33.414 748 31.536
Libya 33.213 527 18.518
El Salvador 28.809 831 23.317
Denmark 27.072 649 19.942
Australia 27.044 875 24.676
Bosnia Herzegovina 27.001 829 20.005
Hungary 24.716 749 5.152
South Korea 23.661 406 21.292
Cameroon 20.838 418 19.440
Bulgaria 20.271 807 14.339
Ivory Coast 19.641 120 19.202
Greece 17.707 383 9.989
Macedonia 17.674 729 14.642
Madagascar 16.348 229 14.947
Croatia 16.245 272 14.793
Tunisia 16.114 214 5.032
Senegal 14.919 309 12.231
Zambia 14.660 332 13.821
Norway 13.788 274 11.190
Sudan 13.606 836 6.764
Albania 13.391 380 7.629
Myanmar 11.631 256 3.073
Namibia 11.121 121 8.787
Malaysia 11.034 134 9.889
Congo [DRC] 10.624 271 10.093
Guinea 10.598 66 9.940
Montenegro 10.441 163 6.720
Maldives 10.157 34 8.950
French Guiana 9.895 65 9.536
Finland 9.743 345 7.850
Tajikistan 9.685 75 8.483
Slovakia 9.343 44 4.213
Jordan 9.226 51 4.359
Haiti 8.740 227 6.757
Gabon 8.728 54 7.934
Luxembourg 8.376 124 7.128
Mozambique 8.288 59 4.836
Zimbabwe 7.816 228 6.112
Uganda 7.777 75 4.033
Mauritania 7.474 161 7.091
Jamaica 6.170 93 1.741
Cape Verde 5.817 59 5.134
Malawi 5.770 179 4.243
Georgia 5.552 32 2.054
Cuba 5.483 122 4.787
Swaziland 5.452 108 4.844
Djibouti 5.410 61 5.340
Slovenia 5.388 149 3.600
Hong Kong 5.076 105 4.790
Nicaragua 5.073 149 2.913
Equatorial Guinea 5.028 83 4.740
Democratic Republic Congo Brazzaville 5.008 89 3.887
Suriname 4.836 102 4.667
Rwanda 4.832 29 3.117
Central African Republic 4.806 62 1.840
Angola 4.797 176 1.813
Lithuania 4.490 92 2.327
Guadeloupe 4.487 42 2.199
Trinidad and Tobago 4.386 72 2.275
Syria 4.102 194 1.074
Réunion 3.882 14 2.819
Aruba 3.872 25 3.037
Bahamas 3.838 89 2.005
Somalia 3.588 99 2.946
Gambia 3.569 111 2.161
Thailand 3.545 59 3.369
Mayotte 3.541 40 2.964
Sri Lanka 3.363 13 3.210
Estonia 3.267 64 2.513
Botswana 3.172 16 710
Mali 3.090 130 2.439
Malta 3.006 32 2.399
Guyana 2.787 78 1.608
South Sudan 2.692 49 1.290
Iceland 2.663 10 2.161
Benin 2.340 40 1.960
Guinea-Bissau 2.324 39 1.549
Sierra Leone 2.215 72 1.681
Yemen 2.031 587 1.266
Burkina Faso 2.028 57 1.279
Uruguay 2.010 47 1.755
Andorra 1.966 53 1.265
Belize 1.854 24 1.196
New Zealand 1.833 25 1.753
Togo 1.749 47 1.336
Cyprus 1.713 22 1.369
Latvia 1.697 36 1.304
French Polynesia 1.579 6 1.335
Lesotho 1.565 35 822
Liberia 1.342 82 1.221
Martinique 1.290 20 98
Niger 1.196 69 1.110
Chad 1.185 85 1.006
Vietnam 1.077 35 999
Sao Tome and Principe 911 15 885
San Marino 727 42 676
Diamond Princess 712 13 651
Turks and Caicos 682 5 620
Channel Islands 664 48 600
Sint Maarten 644 22 532
Papua New Guinea 532 7 516
Taiwan 513 7 480
Tanzania 509 21 183
Burundi 502 1 472
Comoros 478 7 458
Faeroe Islands 460 0 423
Saint Martin 383 8 273
Gibraltar 382 0 341
Eritrea 375 0 341
Mauritius 367 10 343
Curaçao 364 1 148
Isle of Man 340 24 315
Mongolia 313 0 305
Cambodia 276 0 275
Bhutan 273 0 210
Monaco 212 2 174
Cayman Islands 211 1 208
Barbados 190 7 178
Bermuda 181 9 167
Brunei 146 3 142
Seychelles 143 0 140
Liechtenstein 117 1 110
Antigua and Barbuda 101 3 92
Caribbean Netherlands 88 1 21
British Virgin Islands 71 1 62
Saint Vincent and the Grenadines 64 0 64
St. Barth 48 0 25
Macau 46 0 46
Fiji 32 2 28
Dominica 30 0 24
Timor-Leste 27 0 27
New Caledonia 27 0 26
Saint Lucia 27 0 27
Grenada 24 0 24
Laos 23 0 22
Saint Kitts and Nevis 19 0 17
Saint Pierre Miquelon 16 0 6
Greenland 14 0 14
Falkland Islands 13 0 13
Montserrat 13 1 12
Vatican City 12 0 12
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Anguilla 3 0 3
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/
Từ khóa:
id news:207371