Vàng Mua Bán
SJC HN 48,450 48,820
SJC HCM 48,450 48,800
DOJI AVPL / HN 48,400 48,600
DOJI AVPL / HCM 48,400 48,700
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,140.00 23,170.00
EUR 25,435.98 25,692.91
GBP 28,410.58 28,697.56
JPY 206.52 208.61
Chứng khoán
VNIndex 886.53 5.36 0.6%
HNX 116.98 0.49 0.42%
UPCOM 56.33 0.35 0.62%

Mỹ có thể giữ được vị thế thống trị toàn cầu sau đại dịch COVID-19?

TRẦN NGHỊ 00:26 | 19/04/2020

Hiện nay không ít người đặt câu hỏi liệu Mỹ có giữ được vai trò lãnh đạo toàn cầu sau đại dịch COVID-19 hay không.

Cuộc đua Mỹ - Trung

Cùng với đà hồi phục kinh tế nhanh hơn tại các nước châu Á, nhiều khả năng vào lúc này Bắc Kinh có thể tận dụng lợi thế đầu tiên của mình, thúc đẩy xu hướng toàn cầu hóa dựa vào Trung Quốc.

Sau đại dịch COVID-19 sẽ là một cuộc đua mang tính sử thi giữa các nền kinh tế quan trọng nhất thế giới (Mỹ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu), kéo theo các hậu quả ảnh hưởng đến cả thế hệ và địa chính trị.

Chưa ai quên những gì Mỹ đã đạt được sau Thế chiến II, khi vươn lên thành cường quốc kinh tế để định hình một thế giới tốt đẹp hơn.

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh
Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh

Cuộc đua sau đại dịch lần này có thể xác định liệu Mỹ có hồi phục theo hướng nước này giữ lại vị trí lãnh đạo toàn cầu hay không. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, có khả năng Bắc Kinh đang thúc đẩy xu hướng toàn cầu hóa phụ thuộc vào Trung Quốc - lợi thế của nước này - bên cạnh sự phục hồi kinh tế nhanh hơn tại khu vực châu Á.

Ở khu châu Âu, trả lời Financial Times, Tổng thống Pháp Macron đã nêu lập luận rằng, những tháng tới có thể xác định liệu Liên minh châu Âu sụp đổ như một dự án chính trị và kinh tế hay không. Những ngày sắp tới cũng có thể tạo nên sự gia tăng nguy hiểm trong khoảng cách kinh tế giữa các thị trường mới nổi và các nước phát triển, do xung đột đang leo thang và gia tăng di cư.

Có thể còn sớm để khẳng định nền kinh tế nào có khả năng hồi phục mạnh mẽ và lâu bền nhất, kéo theo những tác động địa chính trị nào.

Tuần qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo GDP toàn cầu cho năm 2020 giảm 3%, mức giảm lớn nhất kể từ đại suy thoái. Tuy nhiên, các yếu tố ẩn sau dự báo ảm đạm đó làm tăng mối lo ngại của Mỹ và châu Âu. Sự suy giảm kinh tế mạnh mẽ, sự hồi phục chậm hơn có thể là mầm mống cho sự thay đổi lâu dài cấu trúc kinh tế toàn cầu và trở thành lợi thế của Trung Quốc.

IMF dự báo sự suy giảm kinh tế của Mỹ khoảng 6% năm 2020, còn khu vực đồng euro là 7,5%. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cả năm 2020 là 1,2% (sau khi quý I giảm 6,7%). Đây là mức giảm ít hơn nhiều so với 10% mà nhiều chuyên gia dự kiến. Nhóm các quốc gia duy nhất trên thế giới dự kiến ​​nằm trong khu vực tăng trưởng kinh tế tích cực là Đông Á, với tỷ lệ khoảng 1%.

Ngay cả khi chấp nhận rằng tỷ lệ tử vong do COVID-19 của Trung Quốc có khả năng cao hơn so với số liệu được công bố chính thức và sự suy giảm tăng trưởng có thể lớn hơn, điều đó không làm thay đổi khả năng về một kịch bản mà Deloitte và Salesforce trong tuần qua gọi là “Mặt trời mọc ở phương Đông”, theo CNBC.

Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cả năm 2020 là 1,2% (sau khi quý I giảm 6,7%). Đây là mức giảm ít hơn nhiều so với 10% mà nhiều chuyên gia dự kiến. Ảnh: SCMP
Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cả năm 2020 là 1,2% (sau khi quý I giảm 6,7%). Đây là mức giảm ít hơn nhiều so với 10% mà nhiều chuyên gia dự kiến. Ảnh: SCMP

Một trong bốn khả năng theo kịch bản này là trung tâm quyền lực toàn cầu chuyển dịch mạnh về phía Đông. Đó là khi Trung Quốc và các quốc gia Đông Á khác nắm quyền thống trị trên sân khấu thế giới, đồng thời nắm quyền điều phối toàn cầu các hoạt động y tế và các tổ chức đa phương khác.

Điều đó đi kèm với sự chấp nhận rộng rãi hơn trên toàn thế giới về nhiều mặt như: các cơ chế giám sát rộng lớn được xem là một phần của lợi ích cộng đồng, sự phục hồi nhanh hơn của các nước Đông Á với thiệt hại kinh tế do đại dịch ít hơn. Và hơn hết, đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc tăng đáng kể, qua đó đánh bóng danh tiếng toàn cầu.

Tuy nhiên, Mỹ vẫn đang nắm trong tay một loạt lợi thế có thể phục vụ tốt cho hồi phục kinh tế sau đại dịch. Đó là tận dụng sức mạnh kinh tế để củng cố cơ sở hạ tầng, nhanh chóng đảo ngược tình trạng thất nghiệp, hạn chế sự chia rẽ về chính trị. Nhưng đáng kể nhất, Mỹ phải tìm ra “khẩu vị” mới cho thế giới trong vai trò lãnh đạo hợp tác toàn cầu thời kỳ hậu đại dịch Covid-19.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

 Lợi thế của đồng USD

Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, nhưng đồng nhân dân tệ của nước này chỉ chiếm 2% thanh toán và dự trữ trên toàn cầu. Trong khi đó, đồng USD chiếm khoảng 2/3 dự trữ ngoại hối và 4/5 trong giao dịch của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Các nhà kinh tế cho rằng, Trung Quốc có thể loại bỏ các lợi thế kinh tế của Mỹ thông qua ba thế mạnh bị đánh giá thấp của chính họ: là con nợ đáng tin cậy, một chủ nợ hấp dẫn và đang trở thành đối tác lớn của nhiều nước trên lĩnh vực công nghệ.

Trong vai trò là con nợ, thị trường trái phiếu trị giá 13.000 tỷ USD của Trung Quốc hiện lớn thứ hai thế giới và đã vượt qua khủng hoảng. Nợ Trung Quốc đã trả trong quý đầu tiên là 1,3%, tốt hơn nhiều so với mức giảm 15,5% của trái phiếu thị trường mới nổi khác. So với cùng kỳ, thị trường trái phiếu Trung Quốc đã tăng thêm vào dòng vốn ròng 8,5 tỷ USD (60 tỷ nhân dân tệ).

USD là đồng tiền không dễ bị đánh bại
USD là đồng tiền không dễ bị đánh bại

Là một chủ nợ, Trung Quốc vẫn sẵn sàng chi và chi một cách hào phóng. Chẳng hạn như Trung Quốc đã tuyên bố sẵn sàng ủng hộ một thỏa thuận G20 trong việc hoãn các khoản trả nợ cho các nước nghèo. Đây thật ra là một cách tiếp cận đã giúp tăng cường vai trò của Mỹ trên trường quốc tế sau Thế chiến II.

Trên mặt trận công nghệ, rất ít quốc gia sẵn sàng kiếm tiền như Trung Quốc và người dân hoàn toàn trực tuyến. Tencent và Ant Financial có hơn một tỷ người dùng ví kỹ thuật số và họ đang mở rộng nhanh chóng hoạt động trên khắp châu Á. OneConnect, một nhánh của công ty bảo hiểm lớn nhất Trung Quốc, cung cấp cho các tổ chức tài chính ở mười sáu quốc gia châu Á các dịch vụ điện toán đám mây.

Đó là Trung Quốc, vậy những lợi thế nào Mỹ có thể khai thác trong cuộc đua này?

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe không đơn độc khi kêu gọi các doanh nhiệp Nhật Bản - chuỗi cung ứng giá trị cao - chuyển ra khỏi Trung Quốc. Nếu nhiều quốc gia hành động như vậy, nền tảng sản xuất của nền kinh tế Trung Quốc sẽ bị suy giảm.

Theo tác giả Gideon Rachman trên Financial Times, niềm tin toàn cầu vào đồng USD là một lợi thế của Mỹ rất khó bị đánh bại.

Vấn đề cốt yếu trong cuộc đua này là, nếu Mỹ vẫn còn ham muốn giữ vai trò lãnh đạo chính trị và kinh tế toàn cầu thì phần thắng sẽ nghiêng về phía Mỹ, mà không cần phải đánh đổi bằng bất cứ giá nào đối với Trung Quốc. Mỹ vẫn có thể giành chiến thắng nếu các nhà lãnh đạo nước này coi đó là một cuộc đua đường trường.

Sự hồi phục kinh tế hậu đại dịch toàn cầu lần này sẽ diễn ra không đồng đều trên toàn cầu. Lần đầu tiên tham gia cuộc đua giành vị trí thống trị toàn cầu sẽ rất có ý nghĩa đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, lịch sử đã dạy cho Mỹ rằng chiến thắng sẽ tồn tại lâu bền, nếu đạt được cùng với các đối tác và đồng minh.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

328

CA NHIỄM

0

CA TỬ VONG

298

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

6.511.965

CA NHIỄM

386.073

CA TỬ VONG

2.807.644

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Hà Nội 112 0 81
Hồ Chí Minh 56 0 54
Vĩnh Phúc 19 0 14
Ninh Bình 13 0 11
Bình Thuận 9 0 9
Quảng Ninh 7 0 7
Đà Nẵng 6 0 6
Hà Nam 4 0 4
Đồng Tháp 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 3
Bắc Giang 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Tây Ninh 3 0 3
Bạc Liêu 3 0 3
Quảng Nam 3 0 3
Cần Thơ 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Trà Vinh 2 0 2
Hà Giang 1 0 0
Bắc Ninh 1 0 1
Đồng Nai 1 0 0
Bến Tre 1 0 1
Hải Dương 1 0 1
Khánh Hoà 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hưng Yên 1 0 1
Thái Nguyên 1 0 0
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
US 1.851.520 107.175 479.258
Brazil 584.016 32.548 238.617
Russia 431.715 5.208 195.559
United Kingdom 281.270 39.811 1.212
Spain 240.326 27.128 150.376
Italy 233.836 33.601 160.938
India 216.919 6.088 104.107
France 188.802 29.024 69.573
Germany 184.121 8.602 167.453
Peru 178.914 4.894 72.319
Turkey 166.422 4.609 130.852
Iran 160.696 8.012 125.206
Chile 113.628 1.275 21.605
Mexico 101.238 11.729 72.680
Canada 94.641 7.579 51.506
Saudi Arabia 91.182 579 68.159
Pakistan 85.264 1.770 30.128
China 84.160 4.638 79.404
Qatar 62.160 45 37.542
Belgium 58.685 9.522 15.959
Bangladesh 55.140 746 11.590
Netherlands 46.939 5.996 180
Belarus 45.116 248 20.171
Ecuador 40.966 3.486 20.019
Sweden 40.803 4.542 0
South Africa 37.525 792 19.682
Singapore 36.405 24 23.582
United Arab Emirates 36.359 270 19.153
Colombia 33.466 1.099 12.319
Portugal 33.261 1.447 20.079
Switzerland 30.893 1.921 28.600
Kuwait 29.359 230 15.750
Egypt 28.615 1.088 7.350
Indonesia 28.233 1.698 8.406
Ukraine 25.385 742 10.838
Ireland 25.111 1.659 22.698
Poland 24.687 1.115 12.014
Philippines 19.748 974 4.153
Romania 19.669 1.296 13.800
Argentina 19.268 583 5.896
Dominican Republic 18.040 516 11.224
Israel 17.377 291 14.983
Afghanistan 17.267 294 1.522
Japan 16.867 905 14.702
Austria 16.771 670 15.672
Panama 14.609 357 9.519
Oman 13.537 67 2.845
Bahrain 12.815 20 7.410
Kazakhstan 12.067 48 6.240
Denmark 11.971 580 10.750
Bolivia 11.638 400 1.507
Korea, South 11.629 273 10.499
Serbia 11.523 245 6.852
Nigeria 11.166 315 3.329
Armenia 10.524 170 3.454
Algeria 9.733 673 6.218
Czechia 9.438 325 6.749
Moldova 8.795 310 4.863
Ghana 8.548 38 3.132
Norway 8.477 237 7.727
Iraq 8.168 256 4.095
Malaysia 7.970 115 6.531
Morocco 7.922 206 6.866
Australia 7.240 102 6.649
Finland 6.911 321 5.500
Cameroon 6.585 200 3.676
Azerbaijan 6.260 76 3.665
Guatemala 5.760 143 929
Honduras 5.690 234 617
Sudan 5.499 314 1.711
Tajikistan 4.191 48 2.347
Luxembourg 4.024 110 3.861
Djibouti 3.935 26 1.636
Guinea 3.933 23 2.332
Senegal 3.932 45 2.063
Hungary 3.931 534 2.190
Uzbekistan 3.843 16 3.014
Congo (Kinshasa) 3.495 75 492
Cote d'Ivoire 3.110 35 1.530
Thailand 3.084 58 2.968
Greece 2.937 179 1.374
Gabon 2.902 20 801
El Salvador 2.705 51 1.186
Haiti 2.640 50 24
Bulgaria 2.560 146 1.206
Bosnia and Herzegovina 2.551 157 1.939
North Macedonia 2.492 145 1.605
Nepal 2.300 9 278
Croatia 2.246 103 2.095
Kenya 2.216 74 553
Somalia 2.146 79 406
Cuba 2.107 83 1.830
Venezuela 1.952 20 334
Kyrgyzstan 1.899 20 1.292
Estonia 1.880 69 1.650
Maldives 1.850 7 644
Iceland 1.806 10 1.794
Sri Lanka 1.749 11 836
Lithuania 1.684 71 1.260
Slovakia 1.525 28 1.375
New Zealand 1.504 22 1.481
Ethiopia 1.486 17 246
Slovenia 1.477 109 1.358
Mali 1.386 79 788
Guinea-Bissau 1.339 8 53
Equatorial Guinea 1.306 12 200
Lebanon 1.256 27 724
Albania 1.184 33 898
Central African Republic 1.173 4 23
Costa Rica 1.157 10 685
Kosovo 1.142 30 871
Nicaragua 1.118 46 370
Zambia 1.089 7 912
Tunisia 1.087 49 965
Latvia 1.079 24 760
Paraguay 1.070 11 511
South Sudan 994 10 6
Niger 961 65 857
Cyprus 958 17 790
Sierra Leone 909 47 491
Madagascar 908 6 195
Burkina Faso 884 53 753
Andorra 851 51 735
Uruguay 828 23 698
Chad 820 66 590
Georgia 800 13 640
Jordan 757 9 561
Mauritania 745 34 57
Diamond Princess 712 13 651
San Marino 674 42 391
Malta 622 9 562
Congo (Brazzaville) 611 20 179
Jamaica 591 10 361
Tanzania 509 21 183
Uganda 507 0 82
Sao Tome and Principe 484 12 68
Cabo Verde 477 5 238
West Bank and Gaza 457 3 372
Togo 452 13 236
Taiwan* 443 7 428
Yemen 419 95 17
Rwanda 397 2 271
Malawi 369 4 51
Mauritius 335 10 322
Vietnam 328 0 302
Montenegro 324 9 315
Liberia 316 28 169
Mozambique 316 2 109
Eswatini 295 3 201
Benin 244 3 148
Burma 233 6 145
Zimbabwe 222 4 29
Libya 196 5 52
Mongolia 186 0 65
Guyana 153 12 70
Brunei 141 2 138
Comoros 132 2 27
Cambodia 125 0 123
Syria 123 6 53
Trinidad and Tobago 117 8 108
Bahamas 102 11 55
Monaco 99 4 90
Barbados 92 7 81
Angola 86 4 18
Liechtenstein 82 1 55
Suriname 74 1 9
Burundi 63 1 33
Bhutan 47 0 9
Botswana 40 1 23
Eritrea 39 0 39
Antigua and Barbuda 26 3 20
Saint Vincent and the Grenadines 26 0 15
Gambia 26 1 20
Namibia 25 0 16
Timor-Leste 24 0 24
Grenada 23 0 18
Laos 19 0 18
Saint Lucia 18 0 18
Belize 18 2 16
Dominica 18 0 16
Fiji 18 0 15
Saint Kitts and Nevis 15 0 15
Holy See 12 0 2
Seychelles 11 0 11
MS Zaandam 9 2 0
Western Sahara 9 1 6
Papua New Guinea 8 0 8
Lesotho 4 0 2
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/
Từ khóa:
id news:200039