Vàng Mua Bán
SJC HN 60,750 62,420
SJC HCM 60,750 62,400
DOJI AVPL / HN 59,800 61,900
DOJI AVPL / HCM 59,800 61,900
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,060.00 23,090.00
EUR 26,832.90 27,103.94
GBP 29,688.81 29,988.70
JPY 212.27 214.41
Chứng khoán
VNIndex 841.46 1.42 0.17%
HNX 112.78 -0.57 -0.51%
UPCOM 56.12 0.06 0.11%

Miền Nam tái phát dịch tả châu Phi, giá heo hơi dự báo tiếp tục tăng trong tuần tới (13-18/7)

PHƯỢNG LÊ 15:04 | 12/07/2020

Nhập khẩu heo Thái Lan về nhỏ giọt và tái bùng phát dịch tả heo châu Phi tại miền Nam có thể khiến giá heo hơi tuần tới tiếp tục tăng.

Trong tuần qua, giá heo hơi giảm trở lại tại khu vực phía Bắc, có nơi về dưới mốc 89.000 đồng/kg, trong khi đó tại khu vực miền Trung và Nam liên tục tăng trung bình từ 1.000-4.000 đồng/kg. Đáng chú ý, giá heo tại Bình Thuận đã tăng 13.000 đồng/kg so với tuần trước, hiện giao dịch ở 93.000 đồng/kg đây cũng là mức cao nhất cả nước.

Hiện tại, giá heo các địa phương ở miền Bắc đang bán ở mức 88.0000 - 89.000 đồng/kg, tại miền Trung từ 81.000 - 93.000 đồng/kg, miền Nam từ 84.000 - 92.000 đồng/kg.

Nguyên nhân giá heo hơi tăng trở lại và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt do việc nhập khẩu heo từ Thái Lan về Việt Nam còn nhỏ giọt.

Theo đó, ngày 8/7, ông Nguyễn Hữu Thắng chủ trang trại Đồng Hiệp, thành viên Công ty Thùy Dương Phát chia sẻ với Báo Người Lao Động, doanh nghiệp (DN) đầu tiên nhập khẩu heo thịt Thái Lan ở phía Nam, cho biết hiện trang trại đang bỏ trống vì chưa có heo về. 

Ngày 26/6, lô heo thịt 500 con đầu tiên của công ty nhập khẩu về đã được xuất bán xong vào ngày 2/7 nhưng lo tiếp theo đang bị chậm so với kế hoạch. Dự kiến, từ 3 đến 4 ngày tới công ty sẽ nhập 1.000 con heo Thái Lan cung cấp cho thị trường nhưng đang vướng thủ tục ở nước trung gian. 

Nhập heo sống rất khó khăn, trong khi Việt Nam và Thái Lan không chung biên giới. Heo đưa từ Thái Lan qua Lào phải kiểm tra từng con rồi sang xe; đến Việt Nam lại kiểm tra, sang xe nên rất mất thời gian, nhân lực và chi phí.

Nguồn cung heo của Thái Lan cũng hạn chế vì chỉ một số trang trại mới được phép xuất khẩu heo sang Việt Nam, trong khi nhu cầu của DN Việt Nam thì lớn", ông Thắng phân tích.

Từ ngày 11/6 đến 15/6, Cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, qua đàm phán với Cục Thú y Thái Lan đã công nhận 13 trang trại/công ty của Thái Lan đủ điều kiện an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm để xuất khẩu heo sống sang Việt Nam.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

"Tính đến ngày 5/7, đã có 30 lượt DN Việt Nam đăng ký kiểm dịch nhập khẩu gần 4,5 triệu con heo sống từ 13 công ty xuất khẩu của Thái Lan. Trong đó, đã có 7 DN của Việt Nam nhập khẩu gần 9.000 con heo sống từ Thái Lan và đang tiếp tục nhập khẩu nhiều lô heo mới", Cục Thú y chia sẻ với Người Lao Động. 

Bên cạnh đó, tại Miền Nam đã có nơi tái bùng phát dịch tả heo châu Phi có thể khiến giá heo hơi tuần tới tiếp tục tăng. 

Cụ thể, một hộ chăn nuôi heo quy mô lớn ở Vĩnh Long phải tiêu hủy 39 con heo, gần phân nửa đàn, vì có 4 con bị chết do dương tính với dịch tả heo châu Phi.

Ngay khi có kết quả mẫu bệnh phẩm dương tính, đoàn công tác đã đến tiêu hủy thêm 39 con heo có dấu hiệu nhiễm bệnh được nuôi chung chuồng 4 con đã chết; đồng thời thực hiện khử trùng khu vực chăn nuôi, theo dõi 54 con heo còn lại nuôi khác chuồng.

Ngay khi có kết quả mẫu bệnh phẩm dương tính với dịch tả heo châu Phi, đoàn công tác đã đến tiêu hủy thêm 39 con heo có dấu hiệu nhiễm bệnh được nuôi chung chuồng 4 con đã chết; đồng thời thực hiện khử trùng khu vực chăn nuôi, theo dõi 54 con heo còn lại nuôi khác chuồng, theo báo Công An.

Ngoài ra, trước câu hỏi nông dân trên cả nước đang có nhu cầu tái đàn rất lớn, nhưng gặp khó khăn do giá con giống quá cao, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT chia sẻ, hiện chúng ta vẫn giữ được đàn heo giống gồm 120.000 con.

Ngoài ra còn có 2,8 triệu con heo nái. Do đó, theo tính toán, sẽ có khoảng 11 triệu con heo giống được cung ứng cho thị trường tái đàn vào quý 4 năm nay. Đây là điểm cốt lõi để khôi phục lại đàn heo của cả nước.  

Song Bộ trưởng Bộ NN-PTNT cũng đề nghị do hầu hết các đàn heo giống đều nằm trong tay các doanh nghiệp lớn. Vì vậy, để đẩy nhanh tốc độ tái đàn (cả ở các hợp tác xã và nông hộ nhỏ), các doanh nghiệp, các trang trại lớn cần đẩy mạnh phát triển đàn heo giống, bán heo giống cho các nông hộ. Bên cạnh đó, cơ quan chức năng phải đẩy mạnh hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ vốn cho người chăn nuôi. 

BẢNG GIÁ HEO HƠI DỰ BÁO NGÀY 13/7/2020
Tỉnh/thành Khoảng giá (đồng/kg) Tăng (+)/giảm (-) đồng/kg
Hà Nội 90.000-91.000 Giữ nguyên
Hải Dương 89.000-90;000 Giữ nguyên
Thái Bình 91.000-93.000 Giữ  nguyên
 Bắc Ninh 88.000-89.000 Giữ nguyên
Hà Nam 90.000-92.000 Giữ nguyên
Hưng Yên 90.000-91.000 +1.000
Nam Định 91.000-92.000 +2.000
Ninh Bình 92.000-93.000 Giữ nguyên
Hải Phòng 89.000-90.000 Giữ nguyên
Quảng Ninh 90.000-91.000 +1.000
Lào Cai 90.000-92.000 Giữ nguyên
Tuyên Quang 90.000-91.0000 Giữ nguyên
Cao Bằng 90.000-91.000 Giữ nguyên
Bắc Kạn 89.000-90.000 Giữ nguyên
Phú Thọ 90.000-91.000 Giữ nguyên
Thái Nguyên 90.000-91.000 +1.000
Bắc Giang 90.000-91.000 Giữ nguyên
Vĩnh Phúc 90.000-91.000 Giữ nguyên
 Lạng Sơn 90.000-91.000 +1.000
Lai Châu 89.000-90.000 Giữ nguyên
Thanh Hóa 86.000-87.000 Giữ nguyên
Nghệ An 88.000-90.000 Giữ nguyên
Hà Tĩnh 86.000-87.000 +2.000
Quảng Bình 80.000-82.000 Giữ nguyên
Quảng Trị 80.000-81.000 Giữ nguyên
TT-Huế 81.000-82.000 Giữ nguyên
Quảng Nam 82.000-83.000 Giữ nguyên
Quảng Ngãi 80.000-81.000 Giữ nguyên
Bình Định 83.000-84.000 Giữ nguyên
Phú Yên 81.000-82.000 Giữ nguyên
Ninh Thuận 86.000-87.000 +2.000
Khánh Hòa 86.000-87.000 +2.000
Bình Thuận 92.000-93.000 Giữ nguyên
Đắk Lắk 81.000-82.000 Giữ nguyên
Đắk Nông 80.000-81.000 Giữ nguyên
Lâm Đồng 84.000-85.000 Giữ nguyên
Gia Lai 84.000-85.000 Giữ nguyên
Đồng Nai 90.000-92.000 Giữ nguyên
TP.HCM 87.000-88.000 +1.000
Bình Dương 83.000-85.000 +2.000
Bình Phước 84.000-85.000 +2.000
BR-VT 84.000-85.000 +2.000
Long An 88.000-89.000 +1.000
Tiền Giang 84.000-85.000 Giữ nguyên
Bạc Liêu  84.000-85.000 Giữ nguyên
Bến Tre 88.000-89.000 +1.000
Trà Vinh 89.000-90.000 Giữ nguyên
Cần Thơ 86.000-87.000 Giữ nguyên
Hậu Giang 87.000-88.000 +2.000
Cà Mau 84.000-85.000 Giữ nguyên
Vĩnh Long 87.000-88.000 +2.000
An Giang 84.000-85.000 +1.000
Kiêng Giang 85.000-86.000 Giữ nguyên
Sóc Trăng 87.000-88.000 +2.000
Đồng Tháp 86.000-87.000 +1.000
Tây Ninh 88.000-89.000 Giữ nguyên
Từ khóa:
id news:206843