Vàng Mua Bán
SJC HN 50,400 50,820
SJC HCM 50,400 50,800
DOJI AVPL / HN 50,250 50,650
DOJI AVPL / HCM 50,350 50,750
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,070.00 23,100.00
EUR 25,671.33 25,930.64
GBP 28,571.43 28,860.03
JPY 209.03 211.14
Chứng khoán
VNIndex 876.46 11.96 1.36%
HNX 116.16 1.8 1.55%
UPCOM 56.78 0.42 0.74%

Làn sóng FDI vào Việt Nam hậu COVID-19: "Cơ hội nghìn năm có một" nhưng hấp thụ thế nào?

CHẤN HƯNG (t/h) 09:12 | 17/06/2020

Với việc kiểm soát dịch COVID-19, cùng với môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện, Việt Nam được xem là điểm đến của nguồn vốn ngoại sau đại dịch.

Trả lời trên TTXVN, Giáo sư Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư nước ngoài, cho rằng hiện đang có xu hướng dịch chuyển luồng vốn đầu tư. Xu hướng này thể hiện rõ khi Mỹ đang tìm mọi cách để thu hút các nhà đầu tư của Mỹ về nước nhằm khắc phục dịch COVID-19 và tạo việc làm.

Nhật Bản đã chi 2,2 tỷ USD để khuyến khích các doanh nghiệp của mình chuyển đầu tư về nước hoặc sang nước thứ ba. Các doanh nghiệp châu Âu cũng đang có sự dịch chuyển khi chuỗi cung ứng toàn cầu có nguy cơ “đứt gãy” bởi dịch COVID-19.

Vốn ngoại đang có dấu hiệu tăng mạnh ở Việt Nam sau COVID-19.
Vốn ngoại đang có dấu hiệu tăng mạnh ở Việt Nam sau COVID-19.

Cơ hội nghìn năm có một

Trước khi dịch COVID-19 diễn ra, từ 2018-2019 xu hướng dịch chuyển luồng vốn đầu tư trên thế giới đã có và Việt Nam đã có cơ hội để đón nhận sự dịch chuyển đầu tư này. Tuy nhiên, sau dịch COVID-19, Việt Nam lại có cơ hội hơn để thu hút luồng vốn này. Điều này do những lý do sau:

Thứ nhất, Việt Nam là nước phòng chống dịch COVID-19 tốt trên thế giới, điều này làm tăng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Sau dịch, Việt Nam được đánh giá cao về chỉ số công khai, minh bạch thông tin, điều này tạo cho doanh nghiệp niềm tin vào thông tin thị trường. Bên cạnh đó, sau dịch bệnh, vị thế điều hành của Chính phủ được nâng cao. Chưa bao giờ người dân có niềm tin vào sự điều hành của Chính phủ Việt Nam như hiện nay.

Thứ hai, tăng trưởng kinh tế quý I của Việt Nam cao vào nhất so với các nước trong khu vực. Trước đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng thấp hơn so với Ấn Độ nhưng hiện tại tăng trưởng của Việt Nam đang cao hơn. So với các nước Đông Nam Á, Việt Nam cũng có mức tăng trưởng cao nhất. Điều này cho thấy sức chống chọi của kinh tế Việt Nam trước khủng hoảng là rất tốt.

Thứ ba, xét về điều kiện bên ngoài, xu hướng toàn cầu hóa đang có hướng thay đổi sau dịch bệnh, đặc biệt nguy cơ về chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng gia tăng. Trong khi đó, Quốc hội Việt Nam vừa phê chuẩn Hiệp định thương mại Việt Nam với Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – Liên minh châu Âu  (EVIPA), điều này mở ra cơ hội lớn cho quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và EU.

Với những nguyên nhân trên, rõ ràng Việt Nam đang có cơ hội tốt hơn rất nhiều so với trước dịch về đón nhận luồng đầu tư mới.

Tuy nhiên, để đón được làn sóng đầu tư này, theo Giáo sư Nguyễn Mại, Việt Nam cần lưu ý 4 điểm sau:

Thứ nhất, Việt Nam cần chuẩn bị sẵn mặt bằng cho các nhà đầu tư. Chính phủ phải chỉ đạo các địa phương, các ban quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất chuẩn bị sẵn mặt bằng, vị trí để đón nhận các nhà đầu tư. Không chỉ chuẩn bị về mặt bằng, Việt Nam cũng cần có thủ tục thuê đất đơn giản nhất và có giá thuê đất ưu đãi cho các nhà đầu tư. Đừng vì thấy xu hướng các nhà đầu tư dịch chuyển sang nhiều mà nâng giá đất lên bởi thực tế giá đất tại Việt Nam đã cao hơn trong khu vực.

Thứ hai, Việt Nam cần chuẩn bị về nguồn nhân lực với trình độ cao và cần giới thiệu để các nhà đầu tư nhận thấy chất lượng nhân lực của Việt Nam sẵn sàng đáp ứng được các yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài. Điều này thực tế đã chứng minh khi Samsung vào Việt Nam, nguồn nhân lực đã đáp ứng được cho nhu cầu của Samsung.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Thứ ba là hạ tầng cơ sở bao gồm điện nước, thông tin, logistics… phải được chuẩn bị tốt nhất và đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư.

Thứ tư, Việt Nam cần tiếp tục rút gọn các thủ tục hành chính, giảm tối thiểu các thủ tục đầu tư kinh doanh để rút ngắn kế hoạch triển khai đầu tư của các doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư lớn, ngoài những ưu đãi về thuế, đất đai cái họ cần là thời gian, vì đối với họ thời gian là vàng bạc.

"Tôi nhấn mạnh đây là một cơ hội tốt, “nghìn năm có một”, nhưng có tận dụng được hay không phụ thuộc vào chính Việt Nam. Việt Nam cần tận dụng cơ hội này bằng một thay đổi cơ bản trong hoạt động quản lý nhà nước đối với thu hút FDI", Giáo sư Nguyễn Mại nói.

Hàng loạt vấn đề về hạ tầng, lao động, công nghệ... cần lưu ý khi vốn FDI đổ vào Việt Nam.
Hàng loạt vấn đề về hạ tầng, lao động, công nghệ... cần lưu ý khi vốn FDI đổ vào Việt Nam.

Lựa chọn nhà đầu tư phù hợp

TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế, cho rằng Việt Nam đã kiểm soát tốt dịch bệnh COVID-19, nhờ vậy Việt Nam khởi động lại các hoạt động của nền kinh tế nhanh hơn các nước khác. Hiện hầu hết các ngành kinh tế đã đi vào hoạt động. Nhờ khởi động nhanh nền kinh tế, Việt Nam sẽ có cơ hội phục hồi kinh tế nhanh hơn và có cơ hội đón nhận luồng vốn đầu tư đang dịch chuyển hiện nay.

Bên cạnh đó, thông qua dịch bệnh, các nhà đầu tư đều nhìn nhận Việt Nam là một nền kinh tế ổn định khi vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong quý I/2020. Chính vì vậy, các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư đến từ Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… đang “nhòm ngó” đến Việt Nam như là một điểm đến đầu tư hấp dẫn.

Tuy cơ hội là có nhưng Việt Nam vẫn phải cạnh tranh với tất cả các quốc gia khác trong thu hút đầu tư, chứ không phải Việt Nam là địa điểm duy nhất thu hút đầu tư. Chính vì vậy, khi các dòng tiền nước ngoài sẵn sàng đổ vào, Việt Nam cần lưu ý đến hàng loạt vấn đề như: Liệu Việt Nam có thể hấp thụ nguồn vốn đầu tư đó hay không?

Liệu Việt Nam có lao động, nhân công tay nghề giỏi để đáp ứng được phương thức sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của các nhà đầu tư hay không? Rồi các vấn đề thủ tục hành chính, hải quan, thuế… có đủ thông thoáng và hấp dẫn các nhà đầu tư hay không? Có chuẩn bị tốt và đáp ứng các vấn đề nêu trên thì Việt Nam mới có thể thu hút được dòng vốn dịch chuyển đầu tư đang diễn ra.

"Tôi cho rằng, khi có dòng vốn đầu tư mới, Chính phủ phải có kế hoạch đón nhận và lựa chọn các nhà đầu tư. Việt Nam cần "chọn mặt gửi vàng" chứ không phải tiếp nhận một cách ồ ạt. Khi Việt Nam được ví như “hoa hậu” được nhiều người săn đón thì chúng ta có quyền lựa chọn ai là người bạn của chúng ta. Vì vậy, giữa các nhà đầu tư, việc lựa chọn các nhà đầu tư với những tiêu chí khách quan phù hợp với định hướng của Việt Nam, phù hợp với thực tiễn kinh doanh của Việt Nam là điều cần thiết", TS Nguyễn Trí Hiếu nhận định.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

369

CA NHIỄM

0

CA TỬ VONG

341

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

12.068.303

CA NHIỄM

550.159

CA TỬ VONG

6.611.748

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Hà Nội 112 0 81
Hồ Chí Minh 56 0 54
Vĩnh Phúc 19 0 14
Ninh Bình 13 0 11
Bình Thuận 9 0 9
Quảng Ninh 7 0 7
Đà Nẵng 6 0 6
Hà Nam 4 0 4
Đồng Tháp 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 3
Bắc Giang 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Tây Ninh 3 0 3
Bạc Liêu 3 0 3
Quảng Nam 3 0 3
Cần Thơ 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Trà Vinh 2 0 2
Hà Giang 1 0 0
Bắc Ninh 1 0 1
Đồng Nai 1 0 0
Bến Tre 1 0 1
Hải Dương 1 0 1
Khánh Hoà 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hưng Yên 1 0 1
Thái Nguyên 1 0 0
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
US 3.055.144 132.309 953.420
Brazil 1.713.160 67.964 1.140.655
India 767.296 21.129 476.378
Russia 706.179 10.825 480.483
Peru 312.911 11.133 204.748
Chile 303.083 6.573 271.741
United Kingdom 288.512 44.602 1.378
Mexico 275.003 32.796 214.316
Spain 252.513 28.396 150.376
Iran 250.458 12.305 212.176
Italy 242.149 34.914 193.640
Pakistan 240.848 4.983 145.311
South Africa 224.665 3.602 106.842
Saudi Arabia 220.144 2.059 158.050
Turkey 208.938 5.282 187.511
France 206.735 29.968 78.121
Germany 198.865 9.056 183.605
Bangladesh 175.494 2.238 84.544
Colombia 124.494 4.606 51.861
Canada 108.334 8.786 71.805
Qatar 101.553 138 96.107
Argentina 87.030 1.694 36.502
China 84.950 4.641 79.802
Egypt 78.304 3.564 22.241
Sweden 74.333 5.500 0
Indonesia 70.736 3.417 32.651
Iraq 67.442 2.779 37.879
Belarus 64.224 443 52.854
Ecuador 63.245 4.873 29.071
Belgium 62.210 9.778 17.159
United Arab Emirates 53.577 328 43.570
Kuwait 52.840 382 42.686
Ukraine 52.285 1.344 24.606
Philippines 51.754 1.314 12.813
Oman 51.725 236 33.021
Kazakhstan 51.059 264 16.298
Netherlands 50.959 6.154 187
Singapore 45.423 26 41.323
Portugal 44.859 1.631 29.714
Bolivia 42.984 1.577 12.883
Panama 41.251 819 19.469
Dominican Republic 39.588 829 20.056
Poland 36.951 1.551 25.477
Israel 33.947 346 18.392
Afghanistan 33.908 957 20.847
Switzerland 32.586 1.966 29.400
Bahrain 30.931 101 26.073
Romania 30.789 1.834 20.969
Armenia 30.346 535 18.000
Nigeria 30.249 684 12.373
Honduras 25.978 694 2.721
Ireland 25.542 1.738 23.364
Guatemala 25.411 1.053 3.718
Ghana 22.822 129 17.564
Azerbaijan 21.916 274 13.100
Japan 20.615 982 17.411
Austria 18.513 706 16.721
Moldova 18.471 614 11.549
Algeria 17.348 978 12.329
Serbia 17.076 341 13.562
Nepal 16.531 35 7.891
Morocco 14.949 242 11.372
Cameroon 14.916 359 11.525
Korea, South 13.293 287 12.019
Denmark 13.117 609 12.246
Czechia 12.814 351 8.010
Cote d'Ivoire 11.504 78 5.571
Uzbekistan 11.259 47 7.060
Sudan 10.084 636 5.074
Australia 9.059 106 7.575
Norway 8.954 251 8.138
Kyrgyzstan 8.847 116 3.053
El Salvador 8.844 243 5.289
Malaysia 8.683 121 8.499
Kenya 8.528 169 2.593
Venezuela 8.008 75 2.100
Congo (Kinshasa) 7.846 189 3.513
Senegal 7.784 143 5.169
North Macedonia 7.406 359 3.554
Finland 7.273 329 6.800
Ethiopia 6.774 120 2.430
Haiti 6.486 123 2.181
Tajikistan 6.364 54 5.011
Bulgaria 6.342 259 3.166
Bosnia and Herzegovina 6.086 214 2.815
Gabon 5.871 46 2.682
Costa Rica 5.836 25 1.929
Guinea 5.697 34 4.577
West Bank and Gaza 5.220 22 525
Mauritania 5.087 139 1.994
Djibouti 4.889 55 4.644
Luxembourg 4.650 110 4.056
Hungary 4.220 591 2.887
Central African Republic 4.109 52 1.050
Kosovo 3.886 82 2.003
Madagascar 3.782 33 1.950
Greece 3.622 193 1.374
Croatia 3.416 115 2.323
Thailand 3.202 58 3.085
Albania 3.188 83 1.832
Equatorial Guinea 3.071 51 842
Somalia 3.028 92 1.147
Nicaragua 2.846 91 1.993
Paraguay 2.554 20 1.212
Maldives 2.517 13 2.180
Cuba 2.399 86 2.242
Mali 2.358 120 1.597
Sri Lanka 2.151 11 1.979
South Sudan 2.021 38 333
Estonia 2.011 69 1.889
Lebanon 1.946 36 1.368
Malawi 1.942 25 369
Zambia 1.895 42 1.348
Iceland 1.882 10 1.854
Lithuania 1.857 79 1.564
Slovakia 1.851 28 1.477
Congo (Brazzaville) 1.821 47 525
Guinea-Bissau 1.790 25 760
Slovenia 1.776 111 1.429
Sierra Leone 1.584 63 1.122
Cabo Verde 1.542 18 730
New Zealand 1.540 22 1.494
Yemen 1.318 351 595
Libya 1.268 36 306
Tunisia 1.221 50 1.050
Benin 1.199 21 333
Rwanda 1.194 3 610
Jordan 1.169 10 977
Latvia 1.154 30 1.019
Eswatini 1.138 14 588
Niger 1.097 68 976
Mozambique 1.071 8 337
Cyprus 1.008 19 839
Burkina Faso 1.005 53 862
Uganda 1.000 0 908
Uruguay 974 29 871
Georgia 968 15 844
Montenegro 960 17 320
Liberia 926 41 395
Zimbabwe 885 9 206
Chad 873 74 788
Andorra 855 52 802
Jamaica 751 10 600
Sao Tome and Principe 724 13 283
Diamond Princess 712 13 651
San Marino 698 42 656
Togo 695 15 475
Malta 674 9 656
Suriname 671 17 435
Namibia 615 0 25
Tanzania 509 21 183
Taiwan* 449 7 438
Angola 396 22 117
Syria 372 14 126
Vietnam 369 0 347
Mauritius 342 10 330
Burma 317 6 250
Botswana 314 1 31
Comoros 313 7 272
Guyana 284 16 125
Mongolia 227 0 197
Eritrea 215 0 56
Burundi 191 1 118
Cambodia 141 0 131
Brunei 141 3 138
Trinidad and Tobago 133 8 117
Monaco 108 4 95
Bahamas 106 11 89
Barbados 98 7 90
Lesotho 91 0 11
Seychelles 91 0 11
Liechtenstein 84 1 81
Bhutan 80 0 55
Antigua and Barbuda 70 3 23
Gambia 63 3 32
Belize 30 2 19
Saint Vincent and the Grenadines 29 0 29
Timor-Leste 24 0 24
Grenada 23 0 23
Saint Lucia 22 0 19
Fiji 21 0 18
Laos 19 0 19
Dominica 18 0 18
Saint Kitts and Nevis 16 0 15
Holy See 12 0 12
Papua New Guinea 11 0 8
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/

(Nguồn: TTXVN)

Từ khóa:
id news:204885