Vàng Mua Bán
SJC HN 54,950 55,470
SJC HCM 54,950 55,450
DOJI AVPL / HN 55,000 55,300
DOJI AVPL / HCM 54,950 55,450
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,070.00 23,100.00
EUR 26,383.36 26,649.86
GBP 28,772.60 29,063.23
JPY 213.06 215.21
Chứng khoán
VNIndex 911.11 -1.39 -0.15%
HNX 131.82 -0.82 -0.62%
UPCOM 60.96 0.3 0.5%

Làn sóng FDI vào Việt Nam hậu COVID-19: "Cơ hội nghìn năm có một" nhưng hấp thụ thế nào?

CHẤN HƯNG (t/h) 09:12 | 17/06/2020

Với việc kiểm soát dịch COVID-19, cùng với môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện, Việt Nam được xem là điểm đến của nguồn vốn ngoại sau đại dịch.

Trả lời trên TTXVN, Giáo sư Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư nước ngoài, cho rằng hiện đang có xu hướng dịch chuyển luồng vốn đầu tư. Xu hướng này thể hiện rõ khi Mỹ đang tìm mọi cách để thu hút các nhà đầu tư của Mỹ về nước nhằm khắc phục dịch COVID-19 và tạo việc làm.

Nhật Bản đã chi 2,2 tỷ USD để khuyến khích các doanh nghiệp của mình chuyển đầu tư về nước hoặc sang nước thứ ba. Các doanh nghiệp châu Âu cũng đang có sự dịch chuyển khi chuỗi cung ứng toàn cầu có nguy cơ “đứt gãy” bởi dịch COVID-19.

Vốn ngoại đang có dấu hiệu tăng mạnh ở Việt Nam sau COVID-19.
Vốn ngoại đang có dấu hiệu tăng mạnh ở Việt Nam sau COVID-19.

Cơ hội nghìn năm có một

Trước khi dịch COVID-19 diễn ra, từ 2018-2019 xu hướng dịch chuyển luồng vốn đầu tư trên thế giới đã có và Việt Nam đã có cơ hội để đón nhận sự dịch chuyển đầu tư này. Tuy nhiên, sau dịch COVID-19, Việt Nam lại có cơ hội hơn để thu hút luồng vốn này. Điều này do những lý do sau:

Thứ nhất, Việt Nam là nước phòng chống dịch COVID-19 tốt trên thế giới, điều này làm tăng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Sau dịch, Việt Nam được đánh giá cao về chỉ số công khai, minh bạch thông tin, điều này tạo cho doanh nghiệp niềm tin vào thông tin thị trường. Bên cạnh đó, sau dịch bệnh, vị thế điều hành của Chính phủ được nâng cao. Chưa bao giờ người dân có niềm tin vào sự điều hành của Chính phủ Việt Nam như hiện nay.

Thứ hai, tăng trưởng kinh tế quý I của Việt Nam cao vào nhất so với các nước trong khu vực. Trước đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng thấp hơn so với Ấn Độ nhưng hiện tại tăng trưởng của Việt Nam đang cao hơn. So với các nước Đông Nam Á, Việt Nam cũng có mức tăng trưởng cao nhất. Điều này cho thấy sức chống chọi của kinh tế Việt Nam trước khủng hoảng là rất tốt.

Thứ ba, xét về điều kiện bên ngoài, xu hướng toàn cầu hóa đang có hướng thay đổi sau dịch bệnh, đặc biệt nguy cơ về chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng gia tăng. Trong khi đó, Quốc hội Việt Nam vừa phê chuẩn Hiệp định thương mại Việt Nam với Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – Liên minh châu Âu  (EVIPA), điều này mở ra cơ hội lớn cho quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và EU.

Với những nguyên nhân trên, rõ ràng Việt Nam đang có cơ hội tốt hơn rất nhiều so với trước dịch về đón nhận luồng đầu tư mới.

Tuy nhiên, để đón được làn sóng đầu tư này, theo Giáo sư Nguyễn Mại, Việt Nam cần lưu ý 4 điểm sau:

Thứ nhất, Việt Nam cần chuẩn bị sẵn mặt bằng cho các nhà đầu tư. Chính phủ phải chỉ đạo các địa phương, các ban quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất chuẩn bị sẵn mặt bằng, vị trí để đón nhận các nhà đầu tư. Không chỉ chuẩn bị về mặt bằng, Việt Nam cũng cần có thủ tục thuê đất đơn giản nhất và có giá thuê đất ưu đãi cho các nhà đầu tư. Đừng vì thấy xu hướng các nhà đầu tư dịch chuyển sang nhiều mà nâng giá đất lên bởi thực tế giá đất tại Việt Nam đã cao hơn trong khu vực.

Thứ hai, Việt Nam cần chuẩn bị về nguồn nhân lực với trình độ cao và cần giới thiệu để các nhà đầu tư nhận thấy chất lượng nhân lực của Việt Nam sẵn sàng đáp ứng được các yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài. Điều này thực tế đã chứng minh khi Samsung vào Việt Nam, nguồn nhân lực đã đáp ứng được cho nhu cầu của Samsung.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Thứ ba là hạ tầng cơ sở bao gồm điện nước, thông tin, logistics… phải được chuẩn bị tốt nhất và đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư.

Thứ tư, Việt Nam cần tiếp tục rút gọn các thủ tục hành chính, giảm tối thiểu các thủ tục đầu tư kinh doanh để rút ngắn kế hoạch triển khai đầu tư của các doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư lớn, ngoài những ưu đãi về thuế, đất đai cái họ cần là thời gian, vì đối với họ thời gian là vàng bạc.

"Tôi nhấn mạnh đây là một cơ hội tốt, “nghìn năm có một”, nhưng có tận dụng được hay không phụ thuộc vào chính Việt Nam. Việt Nam cần tận dụng cơ hội này bằng một thay đổi cơ bản trong hoạt động quản lý nhà nước đối với thu hút FDI", Giáo sư Nguyễn Mại nói.

Hàng loạt vấn đề về hạ tầng, lao động, công nghệ... cần lưu ý khi vốn FDI đổ vào Việt Nam.
Hàng loạt vấn đề về hạ tầng, lao động, công nghệ... cần lưu ý khi vốn FDI đổ vào Việt Nam.

Lựa chọn nhà đầu tư phù hợp

TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế, cho rằng Việt Nam đã kiểm soát tốt dịch bệnh COVID-19, nhờ vậy Việt Nam khởi động lại các hoạt động của nền kinh tế nhanh hơn các nước khác. Hiện hầu hết các ngành kinh tế đã đi vào hoạt động. Nhờ khởi động nhanh nền kinh tế, Việt Nam sẽ có cơ hội phục hồi kinh tế nhanh hơn và có cơ hội đón nhận luồng vốn đầu tư đang dịch chuyển hiện nay.

Bên cạnh đó, thông qua dịch bệnh, các nhà đầu tư đều nhìn nhận Việt Nam là một nền kinh tế ổn định khi vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong quý I/2020. Chính vì vậy, các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư đến từ Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… đang “nhòm ngó” đến Việt Nam như là một điểm đến đầu tư hấp dẫn.

Tuy cơ hội là có nhưng Việt Nam vẫn phải cạnh tranh với tất cả các quốc gia khác trong thu hút đầu tư, chứ không phải Việt Nam là địa điểm duy nhất thu hút đầu tư. Chính vì vậy, khi các dòng tiền nước ngoài sẵn sàng đổ vào, Việt Nam cần lưu ý đến hàng loạt vấn đề như: Liệu Việt Nam có thể hấp thụ nguồn vốn đầu tư đó hay không?

Liệu Việt Nam có lao động, nhân công tay nghề giỏi để đáp ứng được phương thức sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của các nhà đầu tư hay không? Rồi các vấn đề thủ tục hành chính, hải quan, thuế… có đủ thông thoáng và hấp dẫn các nhà đầu tư hay không? Có chuẩn bị tốt và đáp ứng các vấn đề nêu trên thì Việt Nam mới có thể thu hút được dòng vốn dịch chuyển đầu tư đang diễn ra.

"Tôi cho rằng, khi có dòng vốn đầu tư mới, Chính phủ phải có kế hoạch đón nhận và lựa chọn các nhà đầu tư. Việt Nam cần "chọn mặt gửi vàng" chứ không phải tiếp nhận một cách ồ ạt. Khi Việt Nam được ví như “hoa hậu” được nhiều người săn đón thì chúng ta có quyền lựa chọn ai là người bạn của chúng ta. Vì vậy, giữa các nhà đầu tư, việc lựa chọn các nhà đầu tư với những tiêu chí khách quan phù hợp với định hướng của Việt Nam, phù hợp với thực tiễn kinh doanh của Việt Nam là điều cần thiết", TS Nguyễn Trí Hiếu nhận định.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1069

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

991

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

32.094.034

CA NHIỄM

981.962

CA TỬ VONG

23.676.349

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 394 31 360
Hà Nội 161 0 154
Quảng Nam 101 3 95
Hồ Chí Minh 77 0 77
Bà Rịa - Vũng Tàu 47 0 35
Thái Bình 31 0 31
Bạc Liêu 27 0 27
Hải Dương 25 0 23
Ninh Bình 23 0 23
Vĩnh Phúc 19 0 19
Khánh Hòa 19 0 15
Thanh Hóa 18 0 18
Quảng Ninh 11 0 11
Bắc Giang 10 0 9
Bình Thuận 9 0 9
Nam Định 8 0 7
Quảng Ngãi 7 0 7
Tây Ninh 7 0 7
Quảng Trị 7 1 2
Đồng Tháp 6 0 6
Hưng Yên 6 0 5
Hoà Bình 6 0 6
Trà Vinh 5 0 5
Hà Nam 5 0 5
Cần Thơ 5 0 3
Lạng Sơn 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Hải Phòng 3 0 3
Đắk Lắk 3 0 3
Đồng Nai 3 0 3
Lào Cai 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Thái Nguyên 1 0 1
Hà Giang 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Bình Dương 1 0 1
Bắc Ninh 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Phú Thọ 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 7.139.553 206.593 4.398.907
India 5.730.184 91.173 4.671.850
Brazil 4.627.780 139.065 3.992.886
Russia 1.122.241 19.799 923.699
Colombia 784.268 24.746 662.277
Peru 782.695 31.870 636.489
Mexico 710.049 74.949 510.237
Spain 693.556 31.034 0
South Africa 665.188 16.206 594.229
Argentina 664.799 14.376 525.486
France 481.141 31.459 93.538
Chile 449.903 12.345 425.165
Iran 432.798 24.840 365.846
United Kingdom 409.729 41.862 0
Bangladesh 353.844 5.044 262.953
Iraq 332.635 8.754 264.988
Saudi Arabia 331.359 4.569 313.786
Turkey 308.069 7.711 270.723
Pakistan 307.418 6.432 293.916
Italy 302.537 35.758 220.665
Philippines 294.591 5.091 231.373
Germany 279.205 9.508 249.500
Indonesia 257.388 9.977 187.958
Israel 204.690 1.325 144.963
Ukraine 184.734 3.705 81.670
Canada 147.753 9.243 127.788
Bolivia 131.990 7.731 91.556
Ecuador 129.892 11.171 102.852
Qatar 124.175 212 121.006
Romania 116.415 4.550 93.558
Dominican Republic 109.737 2.074 83.434
Panama 107.990 2.291 84.437
Morocco 107.743 1.918 88.244
Kazakhstan 107.529 1.699 102.323
Belgium 106.887 9.959 19.079
Egypt 102.375 5.822 91.843
Kuwait 101.299 590 92.341
Netherlands 100.597 6.296 0
Oman 95.339 875 86.482
Sweden 89.756 5.876 0
United Arab Emirates 87.530 406 76.995
Guatemala 87.442 3.154 76.459
China 85.314 4.634 80.513
Poland 81.673 2.344 65.561
Japan 79.768 1.512 71.981
Belarus 76.357 796 73.564
Honduras 72.675 2.222 24.022
Ethiopia 71.083 1.141 29.253
Portugal 70.465 1.928 46.290
Venezuela 69.439 574 58.759
Costa Rica 68.059 781 26.136
Nepal 67.804 436 49.954
Bahrain 67.014 231 60.117
Nigeria 57.724 1.102 48.985
Singapore 57.639 27 57.291
Czech Republic 55.464 555 26.709
Uzbekistan 53.275 444 49.649
Switzerland 51.101 2.060 42.100
Algeria 50.400 1.698 35.428
Moldova 48.232 1.244 36.071
Armenia 47.877 942 43.026
Ghana 46.153 299 45.299
Kyrgyzstan 45.630 1.063 41.904
Austria 39.984 777 30.949
Azerbaijan 39.524 580 37.122
Afghanistan 39.145 1.446 32.610
Kenya 37.348 664 24.253
Palestine 37.083 272 26.288
Paraguay 35.571 727 19.867
Ireland 33.675 1.794 23.364
Serbia 33.080 744 31.536
Lebanon 31.792 328 13.527
Libya 30.097 469 16.430
El Salvador 27.954 819 22.113
Australia 26.980 861 24.417
Bosnia Herzegovina 26.081 790 18.634
Denmark 24.357 643 18.359
South Korea 23.341 393 20.832
Cameroon 20.690 416 19.124
Hungary 20.450 702 4.644
Ivory Coast 19.430 120 18.875
Bulgaria 19.283 779 13.867
Macedonia 17.049 710 14.186
Greece 16.286 357 9.989
Madagascar 16.167 226 14.788
Croatia 15.340 257 13.815
Senegal 14.795 303 11.718
Zambia 14.443 332 13.629
Sudan 13.578 836 6.760
Norway 13.277 267 10.371
Albania 12.787 370 7.139
Tunisia 12.479 174 2.386
Namibia 10.663 117 8.431
Congo [DRC] 10.537 271 10.041
Malaysia 10.505 133 9.602
Guinea 10.434 65 9.801
Maldives 9.885 34 8.530
French Guiana 9.762 65 9.431
Tajikistan 9.475 74 8.244
Montenegro 9.428 151 5.728
Finland 9.288 343 7.850
Gabon 8.716 54 7.906
Haiti 8.646 225 6.551
Luxembourg 8.090 124 6.862
Myanmar 7.827 133 2.085
Zimbabwe 7.725 227 6.007
Mauritania 7.425 161 7.028
Slovakia 7.269 41 3.888
Mozambique 7.262 49 4.350
Uganda 6.879 69 2.961
Jordan 6.042 35 3.812
Malawi 5.746 179 4.140
Cape Verde 5.412 54 4.837
Djibouti 5.407 61 5.338
Jamaica 5.395 76 1.444
Swaziland 5.343 108 4.693
Cuba 5.270 118 4.582
Nicaragua 5.073 149 2.913
Hong Kong 5.050 103 4.749
Equatorial Guinea 5.018 83 4.509
Democratic Republic Congo Brazzaville 5.005 89 3.887
Central African Republic 4.802 62 1.830
Rwanda 4.779 27 2.995
Suriname 4.779 101 4.560
Slovenia 4.694 143 3.168
Guadeloupe 4.487 42 2.199
Angola 4.363 159 1.473
Georgia 4.140 25 1.643
Trinidad and Tobago 4.136 67 1.960
Lithuania 3.932 87 2.246
Syria 3.924 181 998
Aruba 3.721 25 2.501
Bahamas 3.618 80 1.915
Gambia 3.542 110 2.011
Mayotte 3.541 40 2.964
Thailand 3.514 59 3.345
Réunion 3.501 15 2.482
Somalia 3.465 98 2.877
Sri Lanka 3.324 13 3.129
Mali 3.034 130 2.382
Estonia 3.033 64 2.387
Malta 2.856 25 2.173
South Sudan 2.664 49 1.290
Botswana 2.567 13 624
Guyana 2.535 69 1.464
Iceland 2.476 10 2.142
Benin 2.325 40 1.954
Guinea-Bissau 2.324 39 1.549
Sierra Leone 2.183 72 1.665
Yemen 2.029 586 1.245
Uruguay 1.946 47 1.661
Burkina Faso 1.929 56 1.252
New Zealand 1.827 25 1.737
Andorra 1.753 53 1.203
Belize 1.706 22 1.019
Togo 1.701 41 1.297
Cyprus 1.654 22 1.369
Latvia 1.572 36 1.248
Lesotho 1.507 35 766
French Polynesia 1.469 5 1.237
Liberia 1.337 82 1.219
Martinique 1.290 20 98
Niger 1.193 69 1.107
Chad 1.164 82 997
Vietnam 1.069 35 991
Sao Tome and Principe 908 15 880
San Marino 723 42 669
Diamond Princess 712 13 651
Turks and Caicos 676 5 588
Channel Islands 654 48 575
Sint Maarten 616 21 517
Papua New Guinea 527 7 232
Taiwan 509 7 480
Tanzania 509 21 183
Burundi 476 1 462
Comoros 470 7 453
Faeroe Islands 451 0 416
Saint Martin 367 8 273
Mauritius 367 10 339
Eritrea 364 0 309
Gibraltar 357 0 324
Isle of Man 340 24 312
Mongolia 313 0 302
Curaçao 301 1 104
Cambodia 275 0 274
Bhutan 261 0 196
Cayman Islands 210 1 205
Monaco 199 1 165
Barbados 189 7 174
Bermuda 181 9 167
Brunei 145 3 142
Seychelles 143 0 136
Liechtenstein 116 1 110
Antigua and Barbuda 97 3 92
Caribbean Netherlands 69 1 21
British Virgin Islands 69 1 48
Saint Vincent and the Grenadines 64 0 64
Macau 46 0 46
St. Barth 45 0 25
Fiji 32 2 28
Timor-Leste 27 0 27
Saint Lucia 27 0 26
New Caledonia 26 0 26
Grenada 24 0 24
Dominica 24 0 18
Laos 23 0 22
Saint Kitts and Nevis 19 0 17
Greenland 14 0 14
Falkland Islands 13 0 13
Montserrat 13 1 12
Saint Pierre Miquelon 12 0 6
Vatican City 12 0 12
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Anguilla 3 0 3
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/

(Nguồn: TTXVN)

Từ khóa:
id news:204885