Giá vàng Mua Bán
Vàng SJC 41.07 41.36
Vàng nữ trang 24 K 40.54 41.34
Tỷ giá VND
EUR Euro 26.222,18
JPY Yên Nhật 213,54
USD Đô Mỹ 23.260,00
Chứng khoán
VNIndex 1,018.33 1.58 0.16%
HNX 106.96 0.2 0.19%
UPCOM 56.72 -0.01 -0.02%

Hơn 1.700 dự án chậm tiến độ, 422 dự án gây thất thoát vốn nhà nước

MINH TUẤN (t/h) 09:49 | 10/07/2019 GMT+7

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho hay, năm 2018 vẫn còn rất nhiều dự án sử dụng vốn nhà nước có vi phạm, gây thất thoát, lãng phí.

Báo cáo Chính phủ về công tác giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, vẫn còn rất nhiều dự án sử dụng vốn nhà nước có vi phạm, gây thất thoát, lãng phí, theo báo Đầu tư.

Cụ thể, qua kiểm tra, trong năm đã phát hiện 25 dự án vi phạm quy định về thủ tục đầu tư; 54 dự án vi phạm về quản lý chất lượng; 422 dự án có thất thoát, lãng phí; 450 dự án phải ngừng thực hiện.

Không chỉ tổng hợp số lượng dự án có vi phạm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư còn “điểm mặt, chỉ tên” các địa phương có nhiều dự án gây thất thoát, lãng phí. 

Nhiều nhất là tỉnh Bắc Giang có 196 dự án, tiếp đó là Phú Thọ có 111 dự án, Quảng Ngãi có 58 dự án. 

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thì các dự án có thất thoát lãng phí chủ yếu là các chi phí không hợp lý, được phát hiện trong giai đoạn thanh, quyết toán, kiểm toán.

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, trong năm 2018 có 56.567 dự án sử dụng vốn nhà nước thực hiện đầu tư. Trong đó, có 23.618 dự án chuyển tiếp, chiếm 41,8%; 32.949 dự án khởi công mới, chiếm 58,2%.

Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2018, có 30.521 dự án kết thúc đầu tư đưa vào khai thác sử dụng, chiếm 54% số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là, trong số các dự án kết thúc đầu tư đưa vào khai thác sử dụng, có 245 dự án có vấn đề về kỹ thuật, không có hiệu quả.

Theo số liệu mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp được, năm 2018 có 1.778 dự án chậm tiến độ, chiếm 3,1% số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ (trong đó số dự án nhóm A là 32 dự án, nhóm B là 382 dự án, nhóm C là 1.364 dự án). 

 Hơn 1.700 dự án sử dụng vốn nhà nước bị chậm tiến độ. Ảnh minh họa.
 Hơn 1.700 dự án sử dụng vốn nhà nước bị chậm tiến độ. Ảnh minh họa.

Các nguyên nhân chậm tiến độ chủ yếu là do công tác giải phóng mặt bằng (863 dự án, chiếm 1,5% số dự án thực hiện trong kỳ); do thủ tục đầu tư (372 dự án, chiếm 0,7% số dự án thực hiện trong kỳ); do bố trí vốn không kịp thời (278 dự án, chiếm 0,49% số dự án thực hiện trong kỳ); do năng lực của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các nhà thầu (142 dự án, chiếm 0,25% số dự án thực hiện trong kỳ) và do các nguyên nhân khác (759 dự án, chiếm 1,34%  số dự án thực hiện trong kỳ).

Trong năm 2018, cũng đã có tới 2.434 dự án thực hiện đầu tư trong năm phải điều chỉnh, chiếm 4,3% tổng số dự án thực hiện trong kỳ.

Trong đó, chủ yếu là các dự án phải điều chỉnh mục tiêu, quy mô đầu tư (1.147 dự án, chiếm 2% số dự án thực hiện trong kỳ); điều chỉnh tiến độ đầu tư (881 dự án, chiếm 1,58% số dự án thực hiện trong kỳ); điều chỉnh vốn đầu tư (798 dự án, chiếm 1,4% số dự án thực hiện trong kỳ); điều chỉnh do các nguyên nhân khác (790 dự án, chiếm 1,37% số dự án thực hiện trong kỳ). 

Tổng hợp số liệu báo cáo của các cơ quan, trong năm 2018 có 43.344 dự án trên tổng số 56.567 dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước thực hiện đầu tư trong kỳ thực hiện báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư, đạt tỷ lệ 76,6%.

Trong năm 2018, các cơ quan quản lý nhà nước đã tiến hành kiểm tra 15.639 dự án (chiếm 27,8% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ), tổ chức đánh giá 22.265 dự án (chiếm 39,57% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ).

Theo số liệu tổng hợp của các cơ quan trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư công, trong năm 2018, các cơ quan đã ưu tiên bố trí trả nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn vốn nhà nước theo quy định của Luật Đầu tư công. 

Tổng số vốn thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản trong năm là 12.050 tỷ đồng. Số nợ đọng xây dựng cơ bản còn lại là 12.554 tỷ đồng. 

Đáng chú ý, đây mới chỉ những con số được công bố dựa trên báo cáo chưa đầy đủ của các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty.

Theo VietnamFinance, về việc quản lý đầu tư từ ngân sách trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá công tác này đã được chấn chỉnh và có nhiều chuyển biến tích cực, nguồn vốn ngân sách được bố trí tập trung hơn, hiệu quả đầu tư bước đầu được nâng cao.

Tuy nhiên, thời gian thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư còn dài, một số quy định còn bất cập; công tác giải phóng mặt bằng một số dự án còn chậm, nhiều dự án còn chậm tiến độ, phải điều chỉnh, tình hình thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công còn chậm.

Các tỉnh có tỷ lệ giải ngân thấp so với kế hoạch vốn đã được bố trí gồm: Hà Giang, Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên, Nghệ An, Đắk Lắk, Lâm Đồng, TP. HCM, Bà Rịa - Vũng Tàu…

Các doanh nghiệp gồm: Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Hàng không Việt Nam, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam…

Về các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP), Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho hay tổng vốn đầu tư của các dự án này theo kế hoạch trong năm là 77.005 tỷ đồng. Trong đó, vốn đầu tư công tham gia là 1.638 tỷ đồng, chiếm 2,13%; vốn chủ sở hữu của các nhà đầu tư là 22.353 tỷ đồng, chiếm 29%; vốn vay thương mại là 53.012 tỷ đồng, chiếm 68,8%. Tổng giá trị thực hiện là 36.201 tỷ đồng, đạt 47% so với kế hoạch.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá, các dự án PPP vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là với các dự án BOT giao thông. Các dự án này chủ yếu do các nhà đầu tư trong nước thực hiện, chưa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án BOT; vị trí trạm thu phí, mức thu phí còn nhiều bất cập, thiếu minh bạch.

Trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước về tính hiệu quả của dự án như mức lợi nhuận của nhà đầu tư, thời hạn nhà đầu tư được nhà nước nhượng quyền thu phí của người sử dụng dịch vụ, giá sử dụng công trình/dịch vụ công, mức độ tham gia của nhà nước chưa rõ ràng. Năng lực giám sát về cơ chế thu phí còn yếu, thiếu minh bạch trong quá trình quản lý hợp đồng.

Một số dự án BOT huy động nguồn vốn đầu tư từ các nhà đầu tư và các ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa chủ yếu là vốn tín dụng ngắn hạn nhưng lại được sử dụng cho đầu tư dài hạn nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro an toàn hệ thống ngân hàng.

Các dự án thực hiện theo hình thức BT chậm triển khai thực hiện, một số dự án gặp khó khăn do chưa có nguồn thanh toán cho nhà đầu tư do chưa có Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thanh toán theo hình thức này…

Từ khóa:
id news:178600