Giá vàng Mua Bán
Vàng SJC 41.2 41.44
Vàng nữ trang 24 K 40.62 41.42
Tỷ giá VND
EUR Euro 26.257,12
JPY Yên Nhật 216,45
USD Đô Mỹ 23.240,00
Chứng khoán
VNIndex 962.75 -3.31 -0.34%
HNX 101.97 -0.4 -0.39%
UPCOM 55.79 -0.14 -0.25%

Hoạt động xuất khẩu của ngành da giày đang ổn định

VIÊN VIÊN (t/h) 06:52 | 05/12/2019 GMT+7

Hoạt động xuất khẩu của ngành da giày đang tăng trưởng ổn định, có nhiều tín hiệu tốt trong các tháng cuối năm 2019 và những năm tiếp theo

Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu giày dép 10 tháng đầu năm 2019 đạt 14,84 tỷ USD tăng 13,1% so với 10 tháng đầu năm 2018; trong đó riêng tháng 10/2019 đạt 1,59 tỷ USD, tăng 20,4% so với tháng 9/2019 và tăng 15,3% so với tháng 10/2018.

Hai thị trường tỷ USD tiêu thụ giày dép của Việt Nam là Mỹ, EU; trong đó xuất sang Mỹ đạt trên 5,4 tỷ USD, chiếm 36,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của cả nước, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2018; xuất sang thị trường EU đạt gần 4,07 tỷ USD, chiếm 27,4%, tăng 8,9%

Ngoài 2 thị trường lớn trên, còn một số thị trường cũng đạt kim ngạch cao như: Trung Quốc đạt 1,44 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ, chiếm 9,7% trong tổng kim ngạch; Bỉ đạt 937,82 triệu USD, tăng 21,4%, chiếm 6,3%; Đức đạt 802,9 triệu USD, tăng 7,8%, chiếm 5,4%.

Nhìn chung, xuất khẩu giày dép sang phần lớn các thị trường trong 10 tháng đầu năm 2019 tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu sang Nga tăng mạnh nhất 40,4%, đạt 130,15 triệu USD; bên cạnh đó, xuất khẩu sang Ukraine cũng tăng mạnh 34,6%, đạt 9,08 triệu USD; U.A.E tăng 30,9%, đạt 121,84 triệu USD.

Hoạt động xuất khẩu của ngành da giày đang tăng trưởng ổn định.
Hoạt động xuất khẩu của ngành da giày đang tăng trưởng ổn định.

Ngược lại, xuất khẩu giày dép sang Achentina giảm mạnh nhất 26,1%, đạt 59,29 triệu USD; xuất sang Đan Mạch giảm 14,7%, đạt 23,39 triệu USD; Chile giảm 13,1%, đạt 104,9 triệu USD.

Từ đầu năm đến nay, đa số doanh nghiệp da giày có lượng đơn hàng xuất khẩu tăng trung bình 5 - 10% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 tháng đầu năm, sản lượng giày dép da ước đạt 270,6 triệu đôi, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép các loại 11 tháng ước đạt 16,5 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Với những thuận lợi về thị trường, dự báo sản xuất ngành da giày năm 2019 sẽ tăng trên 10% so với năm 2018, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 21,5 tỷ USD.

Cơ hội mở rộng thị trường và tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành tiếp tục có nhiều thuận lợi. Một trong những thuận lợi cho các doanh nghiệp là giá nguyên vật liệu ổn định, không tăng so với cùng kỳ năm trước. Có thể thấy hoạt động xuất khẩu của ngành da giày đang tăng trưởng ổn định, có nhiều tín hiệu tốt trong các tháng cuối năm 2019 và những năm tiếp theo với việc duy trì được lợi thế cạnh tranh tại các thị trường truyền thống như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Tại thị trường Mỹ, việc dỡ bỏ những chính sách ưu đãi với giày dép xuất khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ đang tạo cơ hội cạnh tranh thuận lợi hơn cho giày dép xuất khẩu của Việt Nam. Đặc biệt, Trung Quốc tiếp tục chủ trương giảm ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực da giày để tập trung cho các ngành công nghệ cao nên các đơn hàng gia công giày dép, túi xách sẽ tiếp tục xu hướng dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực từ đầu năm 2019 đang giúp ngành da giày mở rộng thị trường khu vực châu Mỹ với cơ hội tiếp cận những thị trường tiềm năng như Mexico và Canada. Cùng với CPTPP, việc ký kết một số hiệp định thương mại, điển hình như Việt Nam-EU (EVFTA) đã và đang mở ra cơ hội phát triển cho ngành da giày Việt Nam, đặc biệt là sự thu hút đầu tư cũng như thúc đẩy xuất khẩu đối với các thị trường EU và các nước tham gia CPTPP.

Xuất khẩu giày dép 10 tháng đầu năm 2019

ĐVT: USD

Thị trường

Tháng 10/2019

So tháng T9/2019 (%)*

10 tháng đầu năm 2019

+/- so cùng kỳ năm trước (%)*

Tổng kim ngạch XK

1.593.305.989

20,36

14.841.314.653

13,1

Myx

538.910.091

3,27

5.404.220.710

13,43

Trung Quốc

163.970.348

26,7

1.441.639.766

20,44

Bỉ

115.488.008

54,92

937.822.510

21,35

Đức

95.677.435

20,67

802.903.923

7,76

Nhật Bản

67.047.260

-0,66

793.894.803

15

Hà Lan

67.524.523

25,97

593.567.865

14,59

Anh

54.616.729

38,47

533.373.590

0,08

Hàn Quốc

47.379.490

9,62

491.233.064

21,81

Pháp

34.742.342

4,2

428.882.446

4,71

Canada

34.290.806

49,56

314.273.285

18,51

Mexico

30.976.992

34,47

256.504.341

13,7

Italy

29.041.652

73,04

243.866.557

0,35

Australia

34.376.069

25,83

242.440.027

18,49

Tây Ban Nha

24.867.919

114,3

191.312.225

-7,39

Hồng Kông (TQ)

16.376.217

 

156.292.522

9,47

Brazil

15.623.325

32,2

139.662.234

1,03

Nga

22.076.620

67,71

130.148.944

40,36

Đài Loan (TQ)

11.448.123

-5,34

124.226.859

20,22

U.A.E

14.375.783

-6,2

121.838.162

30,94

Ấn Độ

11.265.797

84,58

108.655.117

30,32

Panama

12.113.257

29,05

105.387.481

9,65

Chile

15.529.011

93,39

104.900.498

-13,06

Nam Phi

9.979.385

43,18

91.659.623

-1,3

Slovakia

8.536.929

275,9

89.699.454

6,4

Singapore

10.199.269

84,05

69.779.003

12,46

Indonesia

5.604.876

-4,25

62.336.783

29,17

Philippines

8.525.498

62,3

60.363.300

22,9

Achentina

6.433.168

6,78

59.288.410

-26,09

Thái Lan

5.784.246

7,93

58.511.532

17,98

Pê Ru

9.116.127

123,03

57.567.448

 

Malaysia

5.170.472

12,1

56.290.155

14,04

Thụy Điển

7.103.076

64,22

55.350.082

7,05

Séc

1.856.564

-38,23

53.352.951

27,63

Israel

4.844.985

44,64

39.701.605

21,42

New Zealand

4.282.417

15,42

31.940.769

29,03

Ba Lan

3.708.283

220,91

30.573.685

-4

Thổ Nhĩ Kỳ

5.151.397

134,99

27.171.373

-11,03

Hy Lạp

3.922.020

47,58

26.540.488

11,34

Đan Mạch

1.823.474

-41,2

23.391.333

-14,7

Thụy Sỹ

3.363.382

78,61

23.385.679

16,8

Áo

2.611.484

34,13

21.645.983

-3,26

Colombia

2.365.142

102,38

21.059.982

 

Phần Lan

2.638.503

70,49

18.347.901

5,02

Na Uy

755.721

104,9

14.203.392

1,01

Ukraine

1.878.645

309,17

9.076.357

34,56

Luxembourg

1.958.295

25,5

9.042.571

 

Bồ Đào Nha

108.063

230,65

3.945.170

7,39

Hungary

127.816

 

1.626.012

4,54

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)

Từ khóa:
id news:190700