Vàng Mua Bán
SJC HN 48,450 48,820
SJC HCM 48,450 48,800
DOJI AVPL / HN 48,400 48,600
DOJI AVPL / HCM 48,400 48,700
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,140.00 23,170.00
EUR 25,435.98 25,692.91
GBP 28,410.58 28,697.56
JPY 206.52 208.61
Chứng khoán
VNIndex 886.22 5.05 0.57%
HNX 117.17 0.69 0.59%
UPCOM 56.33 0.35 0.62%

Hành trình 84 năm của Bombardier và cái 'bắt tay' sai lầm trị giá 9 tỷ USD với Airbus

CHẤN HƯNG 06:39 | 17/05/2020

Trong suốt hành trình phát triển với biết bao thăng trầm gần 80 năm qua, tập đoàn công nghiệp Bombardier Inc. của Canada đã tạo nên những dấu ấn lớn trong ngành hàng không vũ trụ và vận tải của thế giới.

Trong bối cảnh hiện nay, khi dịch COVID-19 làm ngưng trệ các hoạt động kinh tế trên toàn cầu, ảnh hưởng xấu đến hầu hết các doanh nghiệp, Bombardier vẫn thúc đẩy các nỗ lực tái cấu trúc để vượt qua khủng hoảng.

Thuở sơ khai, Bombardier tập trung vào lĩnh vực xe trượt tuyết. Là một thợ rèn lâu năm, ông Joseph-Armand Bombardier - người sáng lập ra tập đoàn công nghiệp Bombardier sau này đã mày mò, tìm giải pháp cho vấn đề di chuyển trong mùa Đông khi băng tuyết bao phủ mặt đường tại Quebec khiến mọi người gặp khó trong việc đi lại.

Số liệu mới nhất cho thấy, Bombardier đã thua lỗ 200 triệu USD trong quý I/2020, dù doanh thu tăng 5%. 
Số liệu mới nhất cho thấy, Bombardier đã thua lỗ 200 triệu USD trong quý I/2020, dù doanh thu tăng 5%. 

Năm 19 tuổi, ông Bombardier bắt đầu làm các công việc cơ khí ngay trong gara nhà mình và dành thời gian rảnh để chế tạo phương tiện đi trên tuyết. Sự miệt mài, cố gắng đã mang đến cho ông những thành quả ban đầu. Bombardier nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho mẫu xe trượt tuyết bảy chỗ ngồi B7 vào năm 1936.

Thành công của B7 thúc đẩy ông Bombardier xây dựng cho mình một nhà máy hiện đại với công suất sản xuất hàng năm lên đến 200 xe vào năm 1940. Một năm sau đó, ông tung ra phiên bản lớn hơn của B7 có tên B12 chuyên vận chuyển hàng hóa và thư tín cũng như cung cấp dịch vụ cấp cứu và cứu hộ.

Năm 1942 đánh dấu sự ra đời của công ty Bombardier Snowmobile Limited. – tiền thân của tập đoàn công nghiệp Bombardier Inc. ngày nay.

Trải qua những thăm trầm, công ty đã khẳng định được vị thế trên thị trường xe trượt tuyết. Trong suốt những năm 1960 và đầu những năm 1970, Bombardier mua lại một số công ty mới, lớn nhất trong số này là công ty Lohnerwerke GmbH - nhà chế tạo xe điện được thành lập từ năm 1823 của Australia - mở đường cho Bombardier tiến vào ngành xe điện và đường sắt. Bombardier cũng thâu tóm đối thủ lớn nhất Bouchard Inc vào năm 1971.

Bất chấp cuộc khủng hoảng năng lượng hồi những năm 1970, Bombardier vẫn giành ngày càng nhiều thị phần. Doanh nghiệp này đã thắng thầu hợp đồng trị giá 118 triệu CAD cung cấp 423 xe điện ngầm cho thành phố Montreal vào năm 1974, mang đến cho công ty một luồng sinh khí mới.

Sang những năm 1980, Bombardier bắt đầu tái định hình chiến lược kinh doanh, hướng đến mục tiêu trở thành nhà chế tạo thiết bị vận chuyển uy tín hàng đầu mà “quả ngọt” đáng chú ý là việc giành được hợp đồng cung cấp hơn 4.600 xe tải cho Chính phủ Canada và hợp đồng cung cấp 2.500 xe tải cho quân đội Bỉ vào năm 1985.

Bombardier đi lên như “diều gặp gió” và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Doanh nghiệp này tiếp tục mở rộng hoạt động thông qua một loạt thương vụ sáp nhập lớn, như thâu tóm công ty Pullman Technology vào năm 1987, mua lại nhánh vận tải Mỹ của The Budd Company năm 1988, cũng như mua UTDC và Concarril vào những năm 1990; đồng thời củng cố vai trò là nhà cung cấp xe vận tải hàng đầu thế giới.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Bombardier đã trở thành một trong những công ty chế tạo lớn và thành công nhất của Candada, vươn dần ra thị trường châu Âu và Bắc Mỹ. Tiến sâu vào thị trường hàng không vũ trụ vào năm 1992, Bombardier tiếp tục mở rộng hoạt động và thâu tóm các công ty mới trong những năm sau đó.

Tháng 4/1996, Bombardier được tổ chức lại theo 5 nhóm hoạt động: Bombardier Aerospace, Bombardier Transportation, Bombardier Recreational Products, Bombardier Services (sau này là Bombardier International) và Bombardier Capital.

Trong đó, Bombardier Aerospace và Bombardier Transportation đã giúp nâng tầm doanh nghiệp này lên các tầm cao mới trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 và tiếp tục giữ vai trò “xương sống” trong hoạt động của công ty tới thời điểm hiện nay.

Bombardier đang đàm phán để bán mảng kinh doanh đường sắt cho công ty Alstom của Pháp và mảng sản xuất dòng máy bay phản lực cho Tập đoàn Textron của Mỹ để tái cấu trúc hoạt động. Trong thập kỷ qua, Bombardier đã đầu tư khoản tiền khổng lồ để phát triển ba dòng máy bay mới gồm Global 7500, Learjet85 và CSeries – dòng máy bay đưa Bombardier trở thành đối thủ của Boeing và Airbus.

Chiến lược “bắt tay” với Airbus của Bombardier bị đánh giá là tốn kém và là “một sai lầm chiến lược nghiêm trọng”.
Chiến lược “bắt tay” với Airbus của Bombardier bị đánh giá là tốn kém và là “một sai lầm chiến lược nghiêm trọng”.

Sau khi Boeing thành công trong việc kiến nghị với Chính quyền Mỹ áp đặt các biện pháp trừng phạt tài chính nhằm vào Bombardier để ngăn chặn CSeries thâm nhập vào thị trường Mỹ, Bombardier quay sang hợp tác với Airbus để sản xuất dòng máy bay này nhằm tiếp cận thị trường của hãng sản xuất máy bay châu Âu. Tuy nhiên, chiến lược “bắt tay” này bị đánh giá là tốn kém và là “một sai lầm chiến lược nghiêm trọng”.

Cùng với việc chương trình sản xuất máy bay vận tải hạng trung Learjet85 bị dừng lại, đây được xem là nguyên nhân chính khiến giới chuyên gia nhận định 90% khoản nợ trị giá 9 tỷ USD của Bombardier có căn nguyên từ các chương trình sản xuất hai dòng máy bay trên.

Bombardier và tập đoàn công nghiệp Mitsubishi Heavy Industries Ltd của Nhật Bản mới đây thông báo sẽ hoàn tất thương vụ liên quan dòng máy bay CRJ vào ngày 1/6 tới. Theo thỏa thuận được thông báo vào năm 2019, Bombardier sẽ bán dòng máy bay này cho Mitsubishi với giá hơn 500 triệu USD. Thương vụ được cho là sẽ phần nào giúp giảm nhẹ gánh nợ mà Bombardier đang gánh hiện nay.

Số liệu mới nhất cho thấy, Bombardier đã thua lỗ 200 triệu USD trong quý I/2020, dù doanh thu tăng 5%. Mặc dù các nhà máy của Bombardier đang dần hoạt động trở lại sau thời gian ngừng hoạt động do dịch COVID-19, tập đoàn này dự đoán hoạt động kinh doanh vẫn sẽ sụt giảm trong quý 2/2020, trước khi phục hồi chậm vào nửa cuối năm nay, theo TTXVN.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

328

CA NHIỄM

0

CA TỬ VONG

298

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

6.432.639

CA NHIỄM

385.991

CA TỬ VONG

2.806.376

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Hà Nội 112 0 81
Hồ Chí Minh 56 0 54
Vĩnh Phúc 19 0 14
Ninh Bình 13 0 11
Bình Thuận 9 0 9
Quảng Ninh 7 0 7
Đà Nẵng 6 0 6
Hà Nam 4 0 4
Đồng Tháp 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 3
Bắc Giang 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Tây Ninh 3 0 3
Bạc Liêu 3 0 3
Quảng Nam 3 0 3
Cần Thơ 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Trà Vinh 2 0 2
Hà Giang 1 0 0
Bắc Ninh 1 0 1
Đồng Nai 1 0 0
Bến Tre 1 0 1
Hải Dương 1 0 1
Khánh Hoà 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hưng Yên 1 0 1
Thái Nguyên 1 0 0
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
US 1.851.520 107.175 479.258
Brazil 584.016 32.548 238.617
Russia 431.715 5.208 195.559
United Kingdom 281.270 39.811 1.212
Spain 240.326 27.128 150.376
Italy 233.836 33.601 160.938
India 216.824 6.088 104.071
Germany 184.121 8.602 167.453
Peru 178.914 4.894 72.319
Turkey 166.422 4.609 130.852
Iran 160.696 8.012 125.206
France 114.400 29.024 69.573
Chile 113.628 1.275 21.605
Mexico 101.238 11.729 72.680
Canada 94.641 7.579 51.506
Saudi Arabia 91.182 579 68.159
China 84.160 4.638 79.404
Pakistan 80.463 1.688 28.923
Qatar 62.160 45 37.542
Belgium 58.685 9.522 15.959
Bangladesh 55.140 746 11.590
Netherlands 46.939 5.996 180
Belarus 45.116 248 20.171
Ecuador 40.966 3.486 20.019
Sweden 40.803 4.542 0
South Africa 37.525 792 19.682
Singapore 36.405 24 23.582
United Arab Emirates 36.359 270 19.153
Colombia 33.466 1.099 12.319
Portugal 33.261 1.447 20.079
Switzerland 30.893 1.921 28.600
Kuwait 29.359 230 15.750
Egypt 28.615 1.088 7.350
Indonesia 28.233 1.698 8.406
Ukraine 25.385 742 10.838
Ireland 25.111 1.659 22.698
Poland 24.687 1.115 12.014
Philippines 19.748 974 4.153
Romania 19.669 1.296 13.800
Argentina 19.268 583 5.896
Dominican Republic 18.040 516 11.224
Israel 17.377 291 14.983
Afghanistan 17.267 294 1.522
Japan 16.867 905 14.702
Austria 16.771 670 15.672
Panama 14.609 357 9.519
Oman 13.537 67 2.845
Bahrain 12.815 20 7.410
Kazakhstan 12.067 48 6.240
Denmark 11.971 580 10.750
Bolivia 11.638 400 1.507
Korea, South 11.629 273 10.499
Serbia 11.523 245 6.852
Nigeria 11.166 315 3.329
Armenia 10.524 170 3.454
Algeria 9.733 673 6.218
Czechia 9.438 325 6.749
Moldova 8.795 310 4.863
Ghana 8.548 38 3.132
Norway 8.477 237 7.727
Iraq 8.168 256 4.095
Malaysia 7.970 115 6.531
Morocco 7.922 206 6.866
Australia 7.240 102 6.649
Finland 6.911 321 5.500
Cameroon 6.585 200 3.676
Azerbaijan 6.260 76 3.665
Guatemala 5.760 143 929
Honduras 5.690 234 617
Sudan 5.499 314 1.711
Tajikistan 4.191 48 2.347
Luxembourg 4.024 110 3.861
Djibouti 3.935 26 1.636
Guinea 3.933 23 2.332
Senegal 3.932 45 2.063
Hungary 3.931 534 2.190
Uzbekistan 3.843 16 3.014
Congo (Kinshasa) 3.495 75 492
Cote d'Ivoire 3.110 35 1.530
Thailand 3.084 58 2.968
Greece 2.937 179 1.374
Gabon 2.902 20 801
El Salvador 2.705 51 1.186
Haiti 2.640 50 24
Bulgaria 2.560 146 1.206
Bosnia and Herzegovina 2.551 157 1.939
North Macedonia 2.492 145 1.605
Nepal 2.300 9 278
Croatia 2.246 103 2.095
Kenya 2.216 74 553
Somalia 2.146 79 406
Cuba 2.107 83 1.830
Venezuela 1.952 20 334
Estonia 1.880 69 1.650
Kyrgyzstan 1.871 20 1.265
Maldives 1.850 7 644
Iceland 1.806 10 1.794
Sri Lanka 1.749 11 836
Lithuania 1.684 71 1.260
Slovakia 1.525 28 1.375
New Zealand 1.504 22 1.481
Ethiopia 1.486 17 246
Slovenia 1.477 109 1.358
Mali 1.386 79 788
Guinea-Bissau 1.339 8 53
Equatorial Guinea 1.306 12 200
Lebanon 1.256 27 724
Albania 1.184 33 898
Central African Republic 1.173 4 23
Costa Rica 1.157 10 685
Kosovo 1.142 30 871
Nicaragua 1.118 46 370
Zambia 1.089 7 912
Tunisia 1.087 49 965
Latvia 1.079 24 760
Paraguay 1.070 11 511
South Sudan 994 10 6
Niger 961 65 857
Cyprus 958 17 790
Sierra Leone 909 47 491
Madagascar 908 6 195
Burkina Faso 884 53 753
Andorra 851 51 735
Uruguay 828 23 698
Chad 820 66 590
Georgia 800 13 640
Jordan 757 9 561
Mauritania 745 34 57
Diamond Princess 712 13 651
San Marino 674 42 391
Malta 622 9 562
Congo (Brazzaville) 611 20 179
Jamaica 591 10 361
Tanzania 509 21 183
Uganda 507 0 82
Sao Tome and Principe 484 12 68
Cabo Verde 477 5 238
West Bank and Gaza 457 3 372
Togo 452 13 236
Taiwan* 443 7 428
Yemen 419 95 17
Rwanda 397 2 271
Malawi 369 4 51
Mauritius 335 10 322
Vietnam 328 0 302
Montenegro 324 9 315
Liberia 316 28 169
Mozambique 316 2 109
Eswatini 295 3 201
Benin 244 3 148
Burma 233 6 145
Zimbabwe 222 4 29
Libya 196 5 52
Mongolia 186 0 65
Guyana 153 12 70
Brunei 141 2 138
Comoros 132 2 27
Cambodia 125 0 123
Syria 123 6 53
Trinidad and Tobago 117 8 108
Bahamas 102 11 55
Monaco 99 4 90
Barbados 92 7 81
Angola 86 4 18
Liechtenstein 82 1 55
Suriname 74 1 9
Burundi 63 1 33
Bhutan 47 0 9
Botswana 40 1 23
Eritrea 39 0 39
Antigua and Barbuda 26 3 20
Saint Vincent and the Grenadines 26 0 15
Gambia 26 1 20
Namibia 25 0 16
Timor-Leste 24 0 24
Grenada 23 0 18
Laos 19 0 18
Saint Lucia 18 0 18
Belize 18 2 16
Dominica 18 0 16
Fiji 18 0 15
Saint Kitts and Nevis 15 0 15
Holy See 12 0 2
Seychelles 11 0 11
MS Zaandam 9 2 0
Western Sahara 9 1 6
Papua New Guinea 8 0 8
Lesotho 4 0 2
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/
Từ khóa:
id news:202286