Vàng Mua Bán
SJC HN 56,000 56,520
SJC HCM 56,000 56,500
DOJI AVPL / HN 56,100 56,550
DOJI AVPL / HCM 56,100 56,500
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,060.00 23,090.00
EUR 26,789.97 27,060.58
GBP 29,331.82 29,628.10
JPY 216.06 218.24
Chứng khoán
VNIndex 900.95 6.91 0.77%
HNX 129.2 0.73 0.56%
UPCOM 59.87 0.11 0.19%

Giá nghêu ở châu Âu vẫn cao vì cầu đang vượt cung

VIÊN VIÊN 07:42 | 07/12/2019

Chín tháng đầu năm nay, nhập khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ vào EU đạt trên 573 triệu USD, giảm 24% so với cùng kỳ năm 2018.

Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, EU chiếm 66% tổng giá trị xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ (nhuyễn thể hai mảnh vỏ) của Việt Nam đi các thị trường. 80% xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ sang EU tập trung vào 3 thị trường Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Italy. Trong quý III, xuất khẩu sang 3 thị trường này đều tăng mạnh 68%, 13% và 45%, do vậy đem lại tăng trưởng 35% cho thị trường EU trong quý III và 8,6% trong 9 tháng đầu năm.

Mặt hàng nghêu chiếm 35% xuất khẩu nhuyễn thể 2 mảnh vỏ đi thị trường EU. Hiện nay có gần 90 công ty Việt Nam tham gia xuất khẩu nhuyễn thể 2 mảnh vỏ sang các thị trường. Riêng tại thị trường Italy hiện có 20 DN tham gia xuất khẩu, trong đó đứng đầu về xuất khẩu nghêu sang thị trường này có Công ty cổ phần thủy sản Bến Tre và công ty nhuyễn thể hai mảnh Minh Đăng, các công ty khác chủ yếu xuất khẩu sò điệp và các nhuyễn thể khác. Công ty nhuyễn thể hai mảnh Hải Nam đứng đầu về xuất khẩu sản phẩm sò điệp và hải sản phối trộn có vẹm, nghêu, riêng tại thị trường EU, công ty này chiếm thị phần chi phối 58% xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ Việt Nam.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Sản phẩm nghêu, sò đã qua xử lý nhiệt (nghêu lụa/nghêu trắng/ nghêu nâu hấp/luộc đông lạnh, thịt nghêu đông lạnh…) xuất khẩu chủ yếu sang thị trường châu Âu (Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Italy).

Giá ngao nâu luộc đông lạnh xuất khẩu sang Bồ Đào Nha trong 9 tháng đầu năm có giá dao động từ 1,6- 1,75 USD/kg, tại Tây Ban Nha dao động từ 1,45 – 1,85 USD/kg, trong khi sản phẩm ngao trắng luộc có giá dao động từ 1,2 – 1,55 USD/kg, sản phẩm cồi điệp được xuất khẩu sang Đan Mạch với giá khoảng 11 USD/kg...

Chín tháng đầu năm nay, nhập khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ vào EU đạt trên 573 triệu USD, giảm 24% so với cùng kỳ năm 2018.

Về các nước nhập khẩu, Tây Ban Nha là nước nhập khẩu lớn nhất mặt hàng này trong khối EU, chiếm 30% tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong khối EU, tiếp đó Pháp đứng thứ hai chiếm 25,5%, Đức xếp thứ ba với 5%.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Giá nhập khẩu trung bình nhuyễn thể hai mảnh vỏ vào các thị trường nhập khẩu lớn nhất trong khối (Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha) lần lượt đạt 3,5; 2,7 và 1,8 USD/kg.

Về các nguồn cung, Hà Lan là nguồn cung nhuyễn thể hai mảnh vỏ lớn nhất cho EU, chiếm 16,8% tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này vào EU. Đứng thứ 2 và 3 lần lượt là Chile và Pháp chiếm 15% và 10,5%. Việt Nam đứng thứ 7 về cung cấp nhuyễn thể hai mảnh vỏ cho EU, chiếm 5,8%.

Theo ITC, giá xuất khẩu trung bình nhuyễn thể hai mảnh vỏ từ các nguồn cung chính cho EU như Chile có giá 2,9 USD/kg, Hà Lan 4,1 USD/kg, Pháp 6,5 USD/kg, Việt Nam 1,8 USD/kg.

Các sản phẩm nhuyễn thể hai mảnh vỏ nhập khẩu chủ yếu vào EU gồm vẹm chế biến (HS 160553); vẹm sống/tươi/ướp lạnh (HS 030731); ngao, sò sống/tươi/ướp lạnh (HS 030771); điệp sống/tươi/ướp lạnh (HS 030721)….

EU ngày càng có nhu cầu cao đối với các sản phẩm vẹm, sò điệp và nghêu trong khi giảm nhu cầu đối với hàu. Giá tất cả các loài này đều tăng, cũng là một phần nguyên nhân khiến nhập khẩu các sản phẩm này vào EU giảm.

Giá nghêu ở miền Nam châu Âu vẫn cao vì nhu cầu đang vượt cung. Về cuối năm, thị trường này sẽ có động thái bình ổn giá và hoạt động giao dịch mặt hàng này sẽ bắt đầu chững lại.

Nhập khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ của EU, T1-T9/2019 (GT: nghìn USD, Nguồn: ITC)

Nước nhập khẩu

T1-T9/2018

T1-T9/2019

Tăng, giảm (%)

Tổng EU

755.152

573.019

-24,1

Tây Ban Nha

182.582

172.734

-5,4

Pháp

161.922

146.147

-9,7

Bồ Đào Nha

20.323

19.249

-5,3

Đức

32.356

28.582

-11,7

Hy Lạp

4.501

4.373

-2,8

Ireland

5.964

4.715

-20,9

Czech Republic

1.084

1.575

45,3

Lithuania

862

992

15,1

Estonia

517

433

-16,2

Từ khóa:
id news:190862