Vàng Mua Bán
SJC HN 48,470 48,870
SJC HCM 48,470 48,850
DOJI AVPL / HN 48,500 48,800
DOJI AVPL / HCM 48,500 48,850
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,200.00 23,230.00
EUR 24,801.52 25,052.04
GBP 27,745.15 28,025.40
JPY 209.00 211.11
Chứng khoán
VNIndex 869.13 10.09 1.16%
HNX 110.49 1.35 1.22%
UPCOM 54.93 0.69 1.26%

EU có thể cứu vãn kinh tế khỏi một cuộc đại suy thoái?

CHẤN HƯNG 02:01 | 29/03/2020

Cùng với đà lây lan của dịch COVID-19 ở châu Âu, tác động đối với nền kinh tế của Liên minh châu Âu (EU) ngày càng rõ rệt, các ngành nghề bị ảnh hưởng đã lan rộng từ ngành ngoại thương và du lịch sang vận tải và dịch vụ ăn uống công cộng...

Việc thị trường chứng khoán châu Âu sụt giảm mạnh mới đây là dấu hiệu rõ rệt nhất. Chịu tác động kép từ sự lây lan của dịch COVID-19 và sự bất ổn của giá dầu thô, thị trường chứng khoán châu Âu đã có những biến động mạnh mẽ, đối với EU từng trải qua cuộc khủng hoảng nợ công và suy thoái kinh tế, việc thị trường tài chính biến động mạnh đủ để tác động đến tâm lý của các nhà quyết sách.

Đối diện với cả hai mặt trận là dịch bệnh và kinh tế

Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19 ở trong nước, ngày 8/3, Thủ tướng Italy Giuseppe Conte tuyên bố phong tỏa một số thành phố và ngày 9/3 tuyên bố phong tỏa trên khắp cả nước, thị trường chứng khoán của châu Âu và Mỹ cũng vì thế mà sụt giảm mạnh. Ngày 10/3, Ủy ban châu Âu (EC) cho biết “sẽ tận dụng mọi công cụ để bảo đảm nền kinh tế EU vượt qua khó khăn”.

Trước đó, lãnh đạo các nước châu Âu như Anh, Italy và Đức đều tuyên bố họ sẽ sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đối phó với cuộc khủng hoảng. Chủ tịch EC Ursula von der Leyen nói rằng phải đối diện với cả hai mặt trận là dịch COVID-19 và tác động mà dịch này gây ra cho kinh tế. Bà cho biết tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn hiện nay là do dịch COVID-19 gây ra, và dùng cụm từ “khó khăn” và “giông bão” để chứng minh phán đoán tác động này chỉ diễn ra trong thời gian ngắn của bà.

  Bà Ursula von der Leyen phải đối mặt với suy thoái kinh tế lớn nhất từ ​​trước đến nay của EU do COVID-19 gây ra. Ảnh: GETTY.

Bà Ursula von der Leyen phải đối mặt với suy thoái kinh tế lớn nhất từ ​​trước đến nay của EU do COVID-19 gây ra. Ảnh: GETTY.

Mặc dù EU đã không trực tiếp đề cập đến sự bất ổn của thị trường tài chính, nhưng tuyên bố này được đưa ra ngay sau khi thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh. Phán đoán của Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) cũng thay đổi rõ rệt sau khi thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh.

Trước đó, ECB cho rằng diễn biến phức tạp của dịch COVID-19 mang đến rủi ro cho triển vọng kinh tế và hoạt động thị trường tài chính của Khu vực đồng euro. ECB đang theo dõi chặt chẽ diễn biến của dịch COVID-19 và tác động của nó, đồng thời chuẩn bị áp dụng các biện pháp phù hợp và có tính đối xứng khi cần thiết.

Sau khi thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh, tại cuộc họp về chính sách tiền tệ của ECB được tổ chức vào ngày 12/3, Chủ tịch ECB Christine Lagarde cảnh báo rằng châu Âu sẽ phải đối diện với những tác động nghiêm trọng giống như cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 nếu không áp dụng các hành động khẩn cấp để đối phó với dịch COVID-19.

Có thể thấy, sau khi thị trường tài chính xuất hiện tình trạng bất ổn, phán đoán của ECB đối với dịch COVID-19 đã thay đổi, từ rủi ro ở mức trung bình trước đó sang rủi ro lớn có thể gây ra cuộc khủng hoảng tài chính.

Thực hiện cả chính sách tài chính và tiền tệ để đối phó với những tác động của dịch COVID-19Sau khi thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh, EU đã nhanh chóng đưa ra một loạt các chính sách tài chính và ECB cũng đưa ra chính sách tiền tệ để đối phó với những tác động kinh tế của dịch COVID-19.

EC nới lỏng hạn chế về trợ cấp chính phủ cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.
EC nới lỏng hạn chế về trợ cấp chính phủ cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.

Chính sách tài chính: Nới lỏng hạn chế tài chính và đưa ra kế hoạch đầu tư

Theo các tài liệu do EC công bố, phản ứng chính sách liên quan đến lĩnh vực tài chính của ủy ban này hiện nay chủ yếu ở ba khía cạnh: Một là, nới lỏng hạn chế về trợ cấp chính phủ. EU có các quy định nghiêm ngặt đối với trợ cấp chính phủ của các quốc gia thành viên, trợ cấp chính phủ ngoài mức quy định phải được EC phê chuẩn.

Để khuyến khích các nước thành viên đối phó với dịch COVID-19, EC cho phép chính phủ trợ cấp cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh, cung cấp gói hỗ trợ khẩn cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và hỗ trợ cần thiết cho các ngân hàng để đảm bảo các gói trợ cấp của chính phủ có thể đến tay các doanh nghiệp thực sự có nhu cầu.

Hai là, nới lỏng hạn chế về chi tiêu tài chính. Trước những khó khăn kinh tế do dịch COVID-19 gây ra, việc các nước như Italy… đưa ra kế hoạch kích thích kinh tế chắc chắn sẽ làm tăng tỷ lệ thâm hụt tài chính và thay đổi kết cấu chi tiêu tài chính. Theo trình bày của Ủy viên châu Âu phụ trách các vấn đề kinh tế vào ngày 16/3, hạn ngạch tài chính mà EU và các nước thành viên có thể sử dụng sẽ sớm được tăng lên, các hạn ngạch nguồn vốn như tài trợ chính phủ và kéo dài thời hạn thu thuế sẽ tăng lên đến hơn 10% GDP.

Ba là, đưa ra kế hoạch đầu tư để đối phó với dịch COVID-19. Mục đích của kế hoạch này là hỗ trợ hệ thống y tế, doanh nghiệp vừa và nhỏ, thị trường lao động và các lĩnh vực dễ bị tổn thương khác trong nền kinh tế. Tổng mức của kế hoạch đầu tư này là 25 tỷ euro.

EU đang đối mặt với suy giảm kinh tế chưa từng có.
EU đang đối mặt với suy giảm kinh tế chưa từng có.

Chính sách tiền tệ: không thay đổi lãi suất, tăng cường mua trái phiếu, nới lỏng yêu cầu giám sát vốn của ngân hàng 

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Tại hội nghị chính sách tiền tệ được tổ chức vào ngày 12/3, ECB đã công bố bộ công cụ chính sách tiền tệ toàn diện mới nhất. Các biện pháp mới chủ yếu ở bốn khía cạnh: Một là, tăng thêm chương trình tái cấp vốn dài hạn mang tính tạm thời và nhanh chóng tăng cường tính thanh khoản vào thị trường tài chính của Khu vực đồng euro.

Hai là, đưa ra chương trình tái cấp vốn dài hạn theo mục tiêu (TLTRO) mới từ tháng 6/2020 đến tháng 6/2021 để khuyến khích các ngân hàng cấp tín dụng cho các thực thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ba là, tăng quy mô mua trái phiếu, đến cuối năm 2020, mua thêm 120 tỷ euro trái phiếu.

Bốn là, nới lỏng tạm thời yêu cầu ngành ngân hàng phải giám sát các phương diện như tiền vốn và tính thanh khoản, bằng cách là các ngân hàng có thể sử dụng đầy đủ các biện pháp hòa hoãn theo các chỉ thị có liên quan, ECB sẽ cung cấp các gói ưu đãi và linh hoạt cho các ngân hàng áp dụng những biện pháp này. Tuy nhiên, ECB không thay đổi lãi suất mà thị trường rất quan tâm.

Hiệu quả tổng thể trong các chính sách của EU là có hạn

Trên thực tế, năm 2019 nền kinh tế EU vốn đã tăng trưởng tương đối chậm, kinh tế Đức giảm tốc và Italy ở bên lề đà tăng cường 0%. Dịch COVID-19 khiến nền kinh tế EU gặp nhiều khó khăn hơn, mặc dù các biện pháp đối phó của EU có nhiều điểm đáng khen ngợi, nhưng hiệu quả tổng thể có thể vẫn có hạn.

Một là, nới lỏng hạn chế tài chính tuy có thể làm tăng không gian hoạt động của chính phủ các nước thành viên, nhưng sẽ làm tăng thâm hụt của chính phủ. Trước yêu cầu mạnh mẽ của các nước như Italy…, EU đã nới lỏng các yêu cầu tài chính cho chính phủ của các nước thành viên, điều này có giá trị quan trọng đối với việc đối phó với dịch COVID-19 và cứu trợ nền kinh tế trong nước.

Phản ứng chính sách của ECB tương đối chậm chạp trước sự tấn công của dịch COVID-19.
Phản ứng chính sách của ECB tương đối chậm chạp trước sự tấn công của dịch COVID-19.

Tuy nhiên, đối với các quốc gia đã có tỷ lệ nợ công tương đối cao như Italy, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, việc tăng chi tiêu của chính phủ sẽ khiến nợ công tăng cao hơn nữa. EU vẫn thiếu các cơ chế thanh toán chuyển khoản nhằm vào các quốc gia cụ thể.

Hai là, hiệu quả của kế hoạch đầu tư để đối phó với tác động của dịch COVID-19 bị hoài nghi. Tổng mức của kế hoạch đầu tư này là 25 tỷ euro, trong đó có 7,5 tỷ euro là quỹ khởi động, tìm cách thúc đẩy dòng vốn đầu tư 17,5 tỷ euro còn lại. Tuy nhiên, 7,5 tỷ euro này không phải là khoản tiền mới tăng thêm, mà là khoản tiền hiện có trong tài khoản của các nước thành viên, là quỹ được EC phân bổ cho các nước thành viên vào năm 2019 nhưng chưa sử dụng hết, vốn phải trả lại vào năm 2020.

Để đối phó với những khó khăn kinh tế hiện nay, EC đang tìm cách hủy bỏ việc thu hồi khoản tiền này. Tuy nhiên, khoản tiền này phải nhanh chóng được đưa vào lĩnh vực đầu tư theo kế hoạch quỹ cơ cấu và đến trước niên hạn ngân sách mới thì mới có tính tích cực đối với việc đối phó với những tác động trong thời gian ngắn.

Ba là, phản ứng chính sách của ECB tương đối chậm chạp. Khác với các hành động cắt giảm lãi suất khẩn cấp của Anh và Mỹ, lý do khiến ECB đã không tổ chức hội nghị về sự bất ổn của thị trường chứng khoán là bởi sự lây lan của dịch COVID-19 đã ảnh hưởng đến công việc thường ngày của ECB, thậm chí một nhân viên của ECB đã được xác nhận nhiễm visrus SARS-CoV-2, khiến hơn 100 người bị cách ly, thống đốc ngân hàng trung ương của các nước cũng giảm thiểu việc đi lại.

Bốn là, coi trọng việc xây dựng cơ chế truyền dẫn tiền tệ, nhưng rủi ro của ngân hàng cũng sẽ tăng lên. Lý do khiến ECB không cắt giảm lãi suất lần này là bởi thiếu không gian giảm lãi suất trong tình hình lãi suất âm, do đó đã chuyển sang chương trình tái cấp vốn dài hạn theo mục tiêu và nhấn mạnh cơ chế truyền dẫn tiền tệ. Biện pháp này đã nhận sự khen ngợi của các nhà kinh tế bao gồm cả cựu Chủ tịch ECB Jean-Claude-Trichet.

Chương trình này tìm cách duy trì quy mô cấp tín dụng dài hạn, và đưa ra các gói ưu đãi lãi suất nhiều hơn cho các ngân hàng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng của Eurozone từng bị ảnh hưởng nặng nề sau cuộc khủng hoảng nợ công, với tỷ lệ nợ xấu tương đối cao, thị trường chứng khoán và các thực thể kinh tế bất ổn đều sẽ làm tăng gánh nặng vốn của các ngân hàng.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

327

CA NHIỄM

0

CA TỬ VONG

268

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

5.549.400

CA NHIỄM

348.224

CA TỬ VONG

2.270.092

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Hà Nội 112 0 81
Hồ Chí Minh 56 0 54
Vĩnh Phúc 19 0 14
Ninh Bình 13 0 11
Bình Thuận 9 0 9
Quảng Ninh 7 0 7
Đà Nẵng 6 0 6
Hà Nam 4 0 4
Đồng Tháp 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 3
Bắc Giang 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Tây Ninh 3 0 3
Bạc Liêu 3 0 3
Quảng Nam 3 0 3
Cần Thơ 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Trà Vinh 2 0 2
Hà Giang 1 0 0
Bắc Ninh 1 0 1
Đồng Nai 1 0 0
Bến Tre 1 0 1
Hải Dương 1 0 1
Khánh Hoà 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hưng Yên 1 0 1
Thái Nguyên 1 0 0
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
US 1.671.728 98.584 379.157
Brazil 374.898 23.473 153.833
Russia 362.342 3.807 131.129
United Kingdom 266.590 37.130 1.162
Spain 236.259 27.117 150.376
Italy 230.555 32.955 144.658
France 182.847 28.533 65.997
Germany 181.189 8.372 161.967
Turkey 158.762 4.397 121.507
India 150.762 4.349 64.272
Iran 139.511 7.508 109.437
Peru 123.979 3.629 50.949
Canada 87.780 6.727 45.260
China 84.102 4.638 79.356
Chile 77.961 806 30.915
Saudi Arabia 76.726 411 48.450
Mexico 71.105 7.633 49.452
Pakistan 57.705 1.197 18.314
Belgium 57.455 9.334 15.320
Qatar 47.207 28 11.844
Netherlands 45.780 5.875 174
Belarus 38.059 208 15.086
Ecuador 37.355 3.203 18.003
Bangladesh 36.751 522 7.579
Sweden 34.440 4.125 4.971
Singapore 32.343 23 16.444
United Arab Emirates 31.086 253 15.982
Portugal 31.007 1.342 18.096
Switzerland 30.761 1.915 28.200
Ireland 24.735 1.615 21.060
South Africa 23.615 481 11.917
Indonesia 23.165 1.418 5.877
Kuwait 22.575 172 7.306
Poland 22.074 1.024 10.020
Colombia 21.981 750 5.265
Ukraine 21.584 644 7.575
Egypt 18.756 797 5.027
Romania 18.429 1.216 11.874
Israel 16.757 281 14.457
Japan 16.581 830 13.612
Austria 16.557 643 15.182
Dominican Republic 15.264 468 8.534
Philippines 14.669 886 3.412
Argentina 12.628 471 4.167
Afghanistan 11.831 220 1.128
Denmark 11.627 563 10.242
Serbia 11.227 239 6.067
Korea, South 11.225 269 10.275
Panama 11.183 310 6.279
Bahrain 9.366 14 4.938
Czechia 9.034 317 6.263
Kazakhstan 8.969 37 4.613
Algeria 8.697 617 4.918
Norway 8.374 235 7.727
Oman 8.118 37 2.067
Nigeria 8.068 233 2.311
Malaysia 7.604 115 6.041
Morocco 7.577 202 4.881
Armenia 7.402 91 3.220
Moldova 7.305 267 3.884
Australia 7.133 102 6.553
Ghana 6.964 32 2.097
Bolivia 6.660 261 647
Finland 6.628 312 5.100
Cameroon 5.044 171 1.917
Iraq 4.848 169 2.852
Azerbaijan 4.403 52 2.819
Honduras 4.189 182 473
Luxembourg 3.995 110 3.783
Sudan 3.976 170 503
Hungary 3.771 499 1.836
Guatemala 3.760 59 274
Uzbekistan 3.290 14 2.636
Guinea 3.275 20 1.673
Tajikistan 3.266 47 1.417
Senegal 3.161 36 1.565
Thailand 3.045 57 2.929
Greece 2.892 173 1.374
Djibouti 2.468 14 1.079
Bulgaria 2.443 130 880
Cote d'Ivoire 2.423 30 1.257
Bosnia and Herzegovina 2.416 149 1.721
Congo (Kinshasa) 2.403 68 340
Croatia 2.244 101 2.046
Gabon 2.135 14 562
El Salvador 2.042 36 787
North Macedonia 2.014 116 1.453
Cuba 1.963 82 1.709
Estonia 1.834 65 1.552
Iceland 1.804 10 1.792
Somalia 1.711 67 253
Lithuania 1.639 65 1.165
Slovakia 1.513 28 1.322
New Zealand 1.504 21 1.461
Slovenia 1.469 108 1.346
Kyrgyzstan 1.468 16 1.015
Maldives 1.395 4 155
Kenya 1.348 52 405
Sri Lanka 1.319 10 712
Guinea-Bissau 1.178 7 42
Venezuela 1.177 10 302
Lebanon 1.140 26 689
Mali 1.077 70 617
Haiti 1.063 31 22
Latvia 1.053 22 741
Tunisia 1.051 48 919
Equatorial Guinea 1.043 12 165
Kosovo 1.038 30 791
Albania 1.029 33 803
Costa Rica 951 10 628
Niger 951 62 786
Cyprus 939 17 594
Zambia 920 7 336
Paraguay 877 11 382
Burkina Faso 832 52 672
South Sudan 806 8 6
Uruguay 787 22 629
Nepal 772 4 155
Andorra 763 51 663
Sierra Leone 754 44 297
Georgia 732 12 537
Jordan 718 9 586
Diamond Princess 712 13 651
Ethiopia 701 6 167
Chad 700 62 303
Central African Republic 671 1 22
San Marino 666 42 275
Malta 611 6 485
Madagascar 586 2 147
Jamaica 556 9 238
Tanzania 509 21 183
Congo (Brazzaville) 487 16 147
Taiwan* 441 7 416
West Bank and Gaza 426 3 365
Cabo Verde 390 4 155
Togo 386 13 161
Rwanda 339 0 244
Mauritius 334 10 322
Vietnam 327 0 272
Montenegro 324 9 315
Sao Tome and Principe 299 11 4
Nicaragua 279 17 199
Liberia 266 26 144
Mauritania 262 9 15
Eswatini 261 2 164
Yemen 233 44 10
Uganda 222 0 69
Mozambique 213 1 71
Benin 208 3 118
Burma 206 6 124
Mongolia 141 0 37
Brunei 141 1 137
Guyana 137 11 62
Cambodia 124 0 122
Syria 121 4 41
Trinidad and Tobago 116 8 108
Malawi 101 4 37
Bahamas 100 11 46
Monaco 98 4 90
Barbados 92 7 71
Comoros 87 1 21
Liechtenstein 82 1 55
Libya 77 3 40
Angola 70 4 18
Zimbabwe 56 4 25
Burundi 42 1 20
Eritrea 39 0 39
Botswana 35 1 20
Bhutan 27 0 6
Antigua and Barbuda 25 3 19
Gambia 25 1 17
Timor-Leste 24 0 24
Grenada 23 0 18
Namibia 21 0 14
Laos 19 0 14
Belize 18 2 16
Saint Lucia 18 0 18
Fiji 18 0 15
Saint Vincent and the Grenadines 18 0 14
Dominica 16 0 16
Saint Kitts and Nevis 15 0 15
Holy See 12 0 2
Suriname 11 1 9
Seychelles 11 0 11
Western Sahara 9 1 6
MS Zaandam 9 2 0
Papua New Guinea 8 0 8
Lesotho 2 0 0
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/

(Nguồn: TTXVN)

Từ khóa:
id news:198524