Vàng Mua Bán
SJC HN 54,880 56,940
SJC HCM 54,880 56,920
DOJI AVPL / HN 55,600 56,600
DOJI AVPL / HCM 55,400 56,700
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,060.00 23,090.00
EUR 26,688.30 26,957.88
GBP 29,514.84 29,812.97
JPY 209.43 211.55
Chứng khoán
VNIndex 848.71 -6.34 -0.75%
HNX 115.29 -1.58 -1.37%
UPCOM 56.86 0.08 0.14%

Du lịch hậu COVID-19: Khó khăn mới chỉ bắt đầu, doanh nghiệp lữ hành 'xâu xé' thị trường nội địa (bài 2)

VIÊN VIÊN 06:31 | 04/07/2020

Sau dịch, du lịch nội địa sẽ là phân khúc mà tất cả các đơn vị lữ hành hướng đến, điều đó đồng nghĩa với việc sẽ diễn ra cuộc cạnh tranh khốc liệt...

Khó khăn chỉ mới bắt đầu

Theo Tổng cục thống kê, khách quốc tế đến nước ta trong tháng 6 chỉ đạt 8.800 lượt, mức thấp nhất trong nhiều năm qua, giảm 61,3% so với tháng trước và giảm 99,3% so với cùng kỳ năm trước.

Do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế nên lượng khách đến trong tháng chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam.

Tính chung 6 tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta đạt 3,7 triệu lượt người, giảm 55,8% so với cùng kỳ.

Theo đó, khách đến từ châu Á đạt 2,72 triệu lượt người, chiếm 72,9% tổng số khách quốc tế nhưng vẫn thấp hơn tới 58,4% so với cùng kỳ. Các thị trường chính cung cấp nguồn khách lớn cho Việt Nam như Trung Quốc giảm 63%; Hàn Quốc giảm 60,4%; Nhật Bản giảm 55,8%... Riêng khách đến từ Campuchia tăng 105,9%.

Thị trường du lịch quốc tế đóng băng, điều này đồng nghĩa với việc tất cả sẽ tập trung vào du lịch nội địa. Nhưng chiếc bánh du lịch nội địa lại quá nhỏ, công ty du lịch làm sao "sống sót" qua mùa dịch?

Đó là bài toán khó với các doanh nghiệp du lịch, khi mà cả inbound (khách nước ngoài vào Việt Nam) và outbound (khách từ Việt Nam đi nước ngoài) án binh bất động, chưa biết bao giờ hết dịch. Doanh nghiệp buộc phải tìm cách cứu cánh từ du lịch nội địa.

Ngay cả những công ty tour mạo hiểm Oxalis Adventure trước đây phục vụ phần lớn khách quốc tế thì nay cũng tập trung nguồn lực thu hút khách nội địa và người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam.

Ngay khi dịch bệnh xảy ra, công ty này phải hoàn tiền cho hơn 2.000 du khách đăng ký cho năm 2020. Điều này làm ảnh hưởng đến kế hoạch tài chính 2020 của Oxalis nhưng doanh nghiệp không thể làm gì khác.

Để chen chân vào miếng bánh du lịch nội địa, Oxalis phối hợp với chính quyền tỉnh để giảm 30-50% các loại phí tham quan, phí dịch vụ môi trường rừng và những khoản thu khác. Oxalis chấp nhận cân đối lại chi phí, lợi nhuận để đưa ra một chương trình kích cầu giảm giá tour  20% so với trước đây...

Khách du lịch nội địa dự đoán sẽ tăng trường mạnh trong dịp hè. Ảnh: Bảo Thu. 
Khách du lịch nội địa dự đoán sẽ tăng trường mạnh trong dịp hè. Ảnh: Bảo Thu. 

Theo ông Nguyễn Minh Mẫn, Trưởng phòng truyền thông Marketting công ty TST Tourist, thời điểm này những công ty có nhiều vốn sẽ ôm vé máy bay giá rẻ ở các chặng bay hot thu hút khách du lịch như Phú Quốc, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Nha Trang... để tạo ra sự cạnh tranh giá.

Nhiều công ty giảm 50% giá tour nhờ vào sự liên kết giữa ngành vận tải, khách sạn, chương trình khuyến mãi giá vé tham quan từ các địa phương... Đó là nguyên nhân vì sao khách được hưởng dịch vụ du lịch ở những resort, khách sạn 5 sao rẻ như giá 3 sao.

Còn đại diện công ty Du lịch Cánh Diều xác định sau dịch sẽ khó khăn về kinh tế dẫn đến người dân chi tiêu tiết kiệm hơn và du lịch không phải là những thứ ưu tiên hàng đầu nên quyết định tạm đóng tất cả tour tuyến du lịch nước ngoài đến hết năm 2020 và tập trung nguồn lực khai thác thị trường du lịch nội địa.

Để cạnh tranh về giá, công ty phải kết hợp với khách sạn để có giá tốt nhất. Năm nay tất cả các khách đều lựa chọn dịch vụ 5 sao hoặc 4 sao vì được giảm đến 50%. Thậm chí những dịch vụ 3 sao công ty cũng không làm vì không có sức hút.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Theo đại diện công ty Lửa Việt Tours, khó khăn của công ty lữ hànhngành du lịch chỉ mới bắt đầu: khách thì ít, tự đi thì nhiều, người làm du lịch thì đông... inbound và outbound đều nhào vô làm nội địa nên sự cạnh tranh rất ác liệt.

Nhiều doanh nghiệp mở cửa tối đa nhưng không có việc, nhiều khi chỉ he hé cho biết còn hoạt động. Khó nhất là các doanh nghiệp lưu trú 3-4 sao. Không mở thì chết. Mở mà chỉ lèo tèo 5 – 7% công suất cũng chết.

Thông thường 3 tháng hè, ngành du lịch làm có thể ăn cả năm, nhưng giờ hè chỉ còn 1 tháng, mà người đi du lịch lại ít vì còn lo ngại dịch bệnh, kinh tế lại khó khăn, người dân thắt chặt tiêu nên các công ty tranh nhau giảm giá dẫn đến câu chuyện phá giá có thể xảy ra. 

Du lịch nội địa không gánh được khó khăn ngành du lịch

Theo nhận định của chuyên gia du lịch, thị trường du lịch quốc tế vốn chiếm tỷ trọng lớn về doanh thu lẫn lợi nhuận cho toàn ngành. Nên dù thị trường du lịch nội địa phục hồi thì ngành du lịch vẫn trông chờ vào thị trường quốc tế.

Theo ông Đinh Ngọc Đức, Vụ trưởng Vụ Thị trường du lịch, Tổng cục Du lịch, thì du lịch nội địa và quốc tế là hai mũi nhọn của ngành du lịch tồn tại và phát triển song song cùng nhau. Nên để ngành du lịch phát triển bền vững sau dịch đều cần có giải pháp kế hoạch phát triển 2 thị trường này.

Ông Đức cho biết từ những ngày đầu dịch COVID-19, Tổng cục Du lịch đã ngồi lại cùng với các cụm địa phương và doanh nghiệp để tìm những giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ doanh nghiệp. Đồng thời lên kế hoạch trong và sau dịch COVID-19 ngành du lịch phải làm gì?

Thị trường du lịch quốc tế mang lại doanh thu chính ch ngành du lịch. Ảnh: Bảo Thu. 
Thị trường du lịch quốc tế mang lại doanh thu chính ch ngành du lịch. Ảnh: Bảo Thu. 

Ông Đức nhận định du lịch nội địa sẽ không gồng gánh được khó khăn của cả ngành du lịch, nhưng chương trình kích cầu là sự đồng lòng phối hợp giữa các địa phương và doanh nghiệp, để du lịch nội địa khởi động và tăng trưởng lại trong hoàn cảnh du lịch quốc tế bị đóng băng.

Tương tự như vậy, du lịch quốc tế ngay thời điểm này cũng đã có những kế hoạch xúc tiến, khai thác du lịch ngay sau khi thị trường mở cửa trở lại. 

Trong thời gian dịch bệnh, Tổng cục du lịch đã ngồi lại với các doanh nghiệp để tổ chức các hội thảo online để kết nối với các đối tác quốc tế tại các thị trường lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam qua trang Vietnam.travel....

“Các doanh nghiệp nước ngoài khá quan tâm và mong muốn những chuyến bay quốc tế được nối lại, họ sẵn sàng kết nối nhu cầu khách quốc tế đến Việt Nam”, ông Đức cho biết.

Ở thị trường quốc tế, chuyên gia khuyến cáo nhắm đến khơi thông trước các thị trường khách Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan. Đây là những thị trường chiếm hơn 80% lượng khách quốc tế đến Việt Nam hằng năm và đã kiểm soát tốt dịch COVID-19. 

Theo dự báo du lịch quốc tế sẽ bị suy giảm trong hai năm tới, có thể đe dọa đến các bộ phận lớn của ngành đang sử dụng tới 1,3 triệu lao động và ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP Việt Nam trong ngắn hạn.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

911

CA NHIỄM

21

CA TỬ VONG

430

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

21.074.199

CA NHIỄM

757.495

CA TỬ VONG

13.925.624

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 315 17 27
Hà Nội 150 0 121
Quảng Nam 89 3 7
Hồ Chí Minh 72 0 62
Bà Rịa - Vũng Tàu 37 0 24
Thái Bình 31 0 30
Bạc Liêu 25 0 24
Ninh Bình 23 0 21
Vĩnh Phúc 19 0 19
Thanh Hóa 18 0 16
Quảng Ninh 11 0 11
Khánh Hòa 11 0 1
Bắc Giang 10 0 4
Bình Thuận 9 0 9
Hải Dương 8 0 5
Quảng Ngãi 7 0 2
Quảng Trị 7 1 0
Nam Định 7 0 3
Hoà Bình 6 0 4
Đồng Tháp 6 0 6
Hà Nam 5 0 4
Hưng Yên 5 0 5
Tây Ninh 4 0 4
Trà Vinh 4 0 2
Lạng Sơn 4 0 0
Hà Tĩnh 4 0 4
Đồng Nai 3 0 1
Đắk Lắk 3 0 0
Hải Phòng 3 0 0
Lào Cai 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Cần Thơ 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Bắc Ninh 1 0 1
Kiên Giang 1 0 0
Lai Châu 1 0 1
Hà Giang 1 0 1
Thái Nguyên 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 5.415.666 170.415 2.843.204
Brazil 3.229.621 105.564 2.356.640
India 2.461.542 48.153 1.751.846
Russia 907.758 15.384 716.396
South Africa 572.865 11.270 437.617
Peru 507.996 25.648 348.006
Mexico 505.751 55.293 341.507
Colombia 433.805 14.145 250.494
Chile 380.034 10.299 353.131
Spain 355.856 28.605 0
Iran 336.324 19.162 292.058
United Kingdom 313.798 41.347 0
Saudi Arabia 294.519 3.303 260.393
Pakistan 287.300 6.153 265.215
Argentina 276.072 5.362 192.434
Bangladesh 269.115 3.557 154.871
Italy 252.235 35.231 202.923
Turkey 245.635 5.912 228.057
Germany 222.269 9.281 200.800
France 209.365 30.388 83.472
Iraq 164.277 5.641 117.208
Philippines 147.526 2.426 70.387
Indonesia 132.816 5.968 87.558
Canada 121.234 9.015 107.553
Qatar 114.281 190 110.957
Kazakhstan 101.848 1.269 78.633
Ecuador 98.343 6.010 78.957
Bolivia 96.459 3.884 33.720
Egypt 96.108 5.107 56.890
Israel 90.283 651 66.143
Ukraine 87.872 2.011 46.797
China 84.786 4.634 79.462
Sweden 83.852 5.776 0
Dominican Republic 83.134 1.393 47.946
Oman 82.531 551 77.278
Panama 78.446 1.722 52.210
Belgium 76.191 9.916 17.913
Kuwait 74.486 489 66.099
Belarus 69.203 599 66.178
Romania 66.631 2.860 31.547
United Arab Emirates 63.489 358 57.372
Netherlands 61.204 6.165 0
Guatemala 60.284 2.296 48.305
Singapore 55.497 27 50.736
Poland 54.487 1.844 37.961
Portugal 53.548 1.770 39.177
Japan 51.147 1.063 36.134
Honduras 49.042 1.542 7.032
Nigeria 48.116 966 34.309
Bahrain 45.726 167 42.180
Ghana 41.725 223 39.495
Kyrgyzstan 41.373 1.491 33.592
Armenia 41.299 814 34.164
Morocco 37.935 584 26.687
Afghanistan 37.424 1.363 26.714
Switzerland 37.403 1.991 32.700
Algeria 37.187 1.341 26.004
Azerbaijan 33.915 500 31.269
Uzbekistan 33.561 218 27.213
Venezuela 30.369 259 21.385
Moldova 29.087 878 20.276
Serbia 28.998 661 18.965
Kenya 28.754 460 15.100
Ireland 26.929 1.774 23.364
Ethiopia 26.204 479 11.428
Costa Rica 26.129 272 8.412
Nepal 24.957 95 16.837
Australia 22.743 375 13.350
Austria 22.594 725 20.346
El Salvador 21.993 584 10.290
Czech Republic 19.401 391 13.574
Cameroon 18.308 401 15.320
Ivory Coast 16.889 107 13.522
Palestine 15.491 106 9.186
Denmark 15.214 621 13.131
Bosnia Herzegovina 15.184 458 9.156
South Korea 14.873 305 13.863
Bulgaria 14.069 484 8.901
Madagascar 13.522 162 11.780
Macedonia 12.357 532 8.662
Sudan 12.115 792 6.305
Senegal 11.740 244 7.572
Norway 9.851 257 8.857
Congo [DRC] 9.589 234 8.480
Malaysia 9.129 125 8.821
Zambia 8.663 246 7.401
French Guiana 8.471 51 7.784
Paraguay 8.389 97 5.516
Guinea 8.198 50 7.120
Gabon 8.077 51 5.920
Tajikistan 7.950 63 6.741
Haiti 7.810 192 5.123
Lebanon 7.711 92 2.496
Finland 7.683 333 7.050
Luxembourg 7.368 122 6.414
Libya 7.050 135 816
Albania 6.971 213 3.616
Mauritania 6.653 157 5.843
Greece 6.381 221 3.804
Croatia 6.050 161 5.078
Maldives 5.494 21 2.920
Djibouti 5.358 59 5.167
Zimbabwe 4.990 128 1.927
Malawi 4.912 153 2.550
Hungary 4.853 607 3.590
Equatorial Guinea 4.821 83 2.182
Central African Republic 4.652 61 1.728
Hong Kong 4.313 65 3.295
Nicaragua 4.115 128 2.913
Montenegro 3.857 73 2.680
Democratic Republic Congo Brazzaville 3.745 60 1.625
Swaziland 3.599 65 1.991
Namibia 3.544 27 848
Thailand 3.376 58 3.173
Somalia 3.227 93 1.728
Cuba 3.174 89 2.525
Mayotte 3.119 39 2.940
Cape Verde 3.073 33 2.232
Sri Lanka 2.882 11 2.658
Suriname 2.761 40 1.830
Slovakia 2.739 31 1.939
Mozambique 2.638 19 1.015
Mali 2.597 125 1.979
South Sudan 2.478 47 1.175
Slovenia 2.332 129 1.960
Lithuania 2.330 81 1.689
Rwanda 2.200 8 1.558
Estonia 2.174 63 1.975
Guinea-Bissau 2.088 29 1.015
Benin 2.014 38 1.681
Iceland 1.976 10 1.852
Sierra Leone 1.940 69 1.496
Tunisia 1.847 53 1.302
Yemen 1.847 528 949
Angola 1.815 80 577
New Zealand 1.602 22 1.531
Gambia 1.556 43 267
Syria 1.432 55 395
Uruguay 1.409 37 1.180
Uganda 1.353 11 1.141
Jordan 1.320 11 1.222
Latvia 1.308 32 1.078
Georgia 1.306 17 1.085
Cyprus 1.305 20 870
Liberia 1.252 82 738
Malta 1.245 9 708
Burkina Faso 1.228 54 997
Botswana 1.214 3 120
Niger 1.161 69 1.075
Togo 1.104 26 791
Bahamas 1.089 15 138
Jamaica 1.071 14 754
Andorra 981 53 858
Chad 949 76 860
Vietnam 911 21 430
Aruba 894 4 114
Lesotho 884 25 271
Sao Tome and Principe 883 15 808
Réunion 754 5 631
Diamond Princess 712 13 651
San Marino 699 42 657
Guyana 631 22 202
Channel Islands 603 47 545
Tanzania 509 21 183
Taiwan 481 7 450
Burundi 410 1 315
Trinidad and Tobago 404 8 139
Comoros 399 7 379
Myanmar 369 6 321
Guadeloupe 367 14 289
Faeroe Islands 362 0 225
Mauritius 344 10 334
Martinique 336 16 98
Isle of Man 336 24 312
Mongolia 297 0 269
Belize 296 2 32
Eritrea 285 0 248
Cambodia 273 0 225
Papua New Guinea 271 3 78
Sint Maarten 263 17 102
Turks and Caicos 258 2 52
Gibraltar 205 0 188
Cayman Islands 203 1 202
Bermuda 159 9 145
Monaco 144 4 114
Barbados 144 7 118
Brunei 142 3 138
French Polynesia 139 0 64
Bhutan 128 0 100
Seychelles 127 0 126
Antigua and Barbuda 93 3 83
Saint Martin 92 4 45
Liechtenstein 90 1 87
Saint Vincent and the Grenadines 57 0 55
Macau 46 0 46
Curaçao 32 1 30
Fiji 28 1 20
Timor-Leste 25 0 24
Saint Lucia 25 0 25
Grenada 24 0 23
New Caledonia 23 0 22
Laos 20 0 19
Dominica 18 0 18
Saint Kitts and Nevis 17 0 17
Greenland 14 0 14
Falkland Islands 13 0 13
St. Barth 13 0 8
Caribbean Netherlands 13 0 7
Montserrat 13 1 12
Vatican City 12 0 12
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
British Virgin Islands 9 1 7
Saint Pierre Miquelon 4 0 1
Anguilla 3 0 3
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/
Từ khóa:
id news:206009