Vàng Mua Bán
SJC HN 47,150 48,020
SJC HCM 47,150 48,000
DOJI AVPL / HN 47,100 47,800
DOJI AVPL / HCM 47,100 47,800
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,400.00 23,430.00
EUR 24,920.32 25,172.04
GBP 28,251.43 28,536.80
JPY 208.97 211.08
Chứng khoán
VNIndex 748.02 1.33 0.18%
HNX 103.93 0.51 0.49%
UPCOM 50.31 -0.03 -0.05%

Dự báo giá heo hơi tuần tới (10-16/2/2020): Tiếp tục đà giảm trên cả nước

PHƯỢNG LÊ 19:21 | 16/02/2020

Sức ép giảm giá để ổn định thị trường của các cơ quan chức năng đưa giá heo hơi quay về mức 45.000-50.000 đồng/kg, khả năng đà giảm tiếp tục diễn ra trên cả nước.

Giá heo hơi tuần qua ghi nhận liên tiếp giảm sau những điều chỉnh hạ giá bán của các công ty chăn nuôi lớn, đặc biệt là khu vực phía Bắc. Tại thị trường miền Nam và miền Trung, giá heo hơi cũng theo xu hướng đi xuống. 

Giá thịt heo trên thị trường vẫn còn quá cao, đến mức mới đây Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường phải khuyến nghị doanh nghiệp chăn nuôi lớn phải giảm giá xuống thấp hơn mức 75.000 đồng/kg heo hơi là hợp lý.

Ông Nguyễn Kim Đoán, Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, ủng hộ việc Chính phủ kêu gọi giảm giá thịt heo, bình ổn thị trường. Bởi thực tế thị trường đang không khan hiếm như trong đợt sau dịch, các trại không tái đàn kịp. Ông nói giá heo hơi thương lái báo trên dưới 80.000 đồng/kg, nhưng giá xuất chuồng thực tế tại các trại chăn nuôi lẻ hôm nay đã giảm rất thấp.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Cụ thể, một số trại trong khu vực Đồng Nai bán giá từ 72.000 - 75.000 đồng/kg, thậm chí heo lớn 1,4 tạ có mỡ nhiều, giá chỉ 69.000 đồng/kg.

Với các chính sách bình ổn thị trường cố gắng đưa giá heo hơi quay về mức 45.000-50.000 đồng/kg, cùng với nhu cầu tiêu thụ trên thị trường đang giảm sau Tết, khả năng trong tuần tới giá heo hơi sẽ tiếp tục giảm sâu trên diện rộng. 

BẢNG GIÁ HEO HƠI CẢ NƯỚC NGÀY 17/2/2020

Tỉnh/thành

Khoảng giá (đồng/kg)

Tăng (+)/giảm (-) đồng/kg

Hà Nội

80.000-81.000

Giữ nguyên

Hải Dương

80.000-81.000

-1.000

Thái Bình

83.000-84.000

Giữ nguyên

 Bắc Ninh

80.000-82.000

Giữ nguyên

Hà Nam

79.000-80.000

-1.000

Hưng Yên

75.000-76.000

-2.000

Nam Định

79.000-80.000

-1.000

Ninh Bình

79.00-80.000

-1.000

Hải Phòng

80.000-82.000

Giữ nguyên

Quảng Ninh

78.000-80.000

Giữ nguyên

Lào Cai

80.000-81.000

-1.000

Tuyên Quang

80.000-81.000

-1.000

Cao Bằng

80.000-82.000

Giữ nguyên

Bắc Kạn

80.000-82.000

Giữ nguyên

Phú Thọ

75.000-76.000

-1.000

Thái Nguyên

80.0000-81.000

-1.000

Bắc Giang

80.000-81.000

-1.000

Vĩnh Phúc

80.000-81.000

Giữ nguyên 

Lạng Sơn

78.000-80.000

Giữ nguyên

Hòa Bình

78.000-80.000

Giữ nguyên

Sơn La

78.000-80.000

GIữ nguyên

Lai Châu

78.000-80.000

Giữ nguyên

Thanh Hóa

79.000-80.000

-1.000

Nghệ An

79.000-80.000

-1.000

Hà Tĩnh

80.000-82.000

Giữ nguyên

Quảng Bình

79.000-80.000

-1.000

Quảng Trị

79.000-80.000

-1.000

TT-Huế

79.000-80.000

-1.000

Quảng Nam

82.000-83.000

Giữ nguyên

Quảng Ngãi

82.000-83.000

Giữ nguyên

Bình Định

82.000-83.000

Giữ nguyên

Phú Yên

80.000-81.000

-1.000

Khánh Hòa

78.000-80.000

Giữ nguyên

Bình Thuận

82.000-83.000

Giữ nguyên

Đắk Lắk

75.000-76.000

Giữ nguyên

Đắk Nông

77.000-78.000

Giữ nguyên

Lâm Đồng

77.000-78.000

-2.000

Gia Lai

78.000-80.000

Giữ nguyên

Đồng Nai

77.000-78.000

-1.000

TP.HCM

78.000-79.000

Giữ nguyên

Bình Dương

78.000-79.000

-2.000

Bình Phước

78.000-79.000

-2.000

BR-VT

78.000-80.000

Giữ nguyên

Long An

80.000-82.000

Giữ nguyên

Tiền Giang

75.000-78.000

-1.000

Bạc Liêu 

75.000-78.000

-1.000

Bến Tre

80.000-82.000

Giữ nguyên

Trà Vinh

80.000-82.000

Giữ nguyên

Cần Thơ

78.000-80.000

Giữ nguyên 

Hậu Giang

79.000-80.000

Giữ nguyên

Cà Mau

80.000-81.000

Giữ nguyên

Vĩnh Long

79.000-80.000

Giữ nguyên

An Giang

75.000-78.000

-1.000

Kiêng Giang

75.000-78.000

-1.000

Sóc Trăng

75.000-78.000

-1.000

Đồng Tháp

78.000-79.000

-1.000

Tây Ninh

77.000-78.000

-2.000

Từ khóa:
id news:195429