Vàng Mua Bán
SJC HN 56,780 57,950
SJC HCM 56,780 57,930
DOJI AVPL / HN 56,900 57,750
DOJI AVPL / HCM 56,800 57,750
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,060.00 23,090.00
EUR 26,552.73 26,820.94
GBP 29,528.39 29,826.66
JPY 211.17 213.30
Chứng khoán
VNIndex 821.35 6.7 0.82%
HNX 111.59 1.17 1.05%
UPCOM 55.51 0.7 1.27%

Dự báo gá heo hơi tuần tới (3-9/8): Xu hướng giảm nhờ tổng đàn đang tăng

PHƯỢNG LÊ 15:54 | 02/08/2020

Giá heo hơi được dự báo sẽ giảm trong tuần tới, nhờ các công tác tái đàn, hỗ trợ vốn con giống cũng như phòng chống dịch bệnh vẫn đang tiếp tục được đẩy mạnh.

Trong tuần qua, giá heo hơi bắt đầu xu hướng giảm trên cả nước, nhưng vẫn duy trì ở mức cao tại khu vực phía Bắc. Trong đó, thị trường heo hơi miền Trung và Nam ghi nhận mức tăng, giảm trái chiều từ 1.000 - 5.000 đồng/kg tại một số tỉnh, thành.

Hiện tại, giá heo các địa phương ở miền Bắc đang bán ở mức 88.000 - 92.000 đồng/kg, tại miền Trung từ 81.000 - 88.000 đồng/kg, miền Nam từ 85.000 - 89.000 đồng/kg.

Giá heo hơi trong tuần có dấu hiệu giảm nhờ công tác tái đàn vẫn đang từng bước thực hiện, con giống không còn khan hiếm như trước.

Theo chia sẻ của Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến, đến cuối tháng 6/2020, cả nước đạt 24,9 triệu con heo, trong đó có hơn 2,8 triệu con nái.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến chia sẻ với báo Chính Phủ: Hiện tại, tuy chúng ta chưa sản xuất được vaccine phòng chống dịch tả heo châu Phi nhưng cũng đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận để khống chế dịch.

Tiêu biểu như việc nghiên cứu ra bộ kit phát hiện sớm bệnh, đặc điểm dịch tễ virus, tiếp tục có các tiến triển trong nghiên cứu vaccine, xử lí môi trường để cắt đứt nguồn lây; nghiên cứu các dòng heo có sức miễn kháng...

Theo báo cáo từ các địa phương đến cuối tháng 6/2020, cả nước đạt 24,9 triệu con heo, trong đó có hơn 2,8 triệu con nái. 16 doanh nghiệp lớn có tốc độ tăng đàn 66,35%, cả nước khoảng 5%. Tổng đàn như vậy bằng 85% so với cuối năm 2018.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

“Từ tháng 5 đến tháng 9/2019 khi dịch lên cao, chúng ta phải liên tục tiêu hủy heo với số lượng rất lớn. Trong thời gian này hầu như không cơ sở, doanh nghiệp nào dám cho phối giống. 

Đến khoảng tháng 9 - 10/2019 mới bắt đầu khởi động lại việc này. Cũng phải mất 6 tháng sau khi có heo giống thì thị trường mới có sản phẩm từ việc tăng đàn này. Chúng tôi dự kiến cuối năm nay “cung - cầu” về thịt heo mới có thể cân bằng”, ông Phùng Đức Tiến cho biết thêm. 

Bên cạnh đó, về việc tái đàn heo ở Hà Nội, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Nội Nguyễn Ngọc Sơn cho biết: Quý I/2020, tổng đàn heo của thành phố là 1,2 triệu con và hiện nay là 1,3 triệu con, bằng 65,8% so với trước khi xảy ra bệnh dịch tả heo châu Phi. 

Việc tái đàn rất hạn chế do giá con giống cao và người chăn nuôi lo ngại về bệnh dịch tả heo châu Phi. Mặt khác, các doanh nghiệp sản xuất heo giống chủ yếu cung cấp nội bộ và mạng lưới gia công, hạn chế bán ra ngoài nên hộ chăn nuôi nhỏ lẻ khó tiếp cận nguồn giống.

Với Hà Nội, để thúc đẩy việc tái đàn heo ngay thời điểm này, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Nguyễn Huy Đăng khẳng định, Hà Nội đang có chủ trương hỗ trợ 5 triệu đồng/nái, các trang trại có đủ điều kiện sẽ được hướng dẫn làm thủ tục để tạo thuận lợi cho việc tái đàn.

Bên cạnh đó, Sở cũng phối hợp với các địa phương khuyến khích các biện pháp tăng nhanh đàn giống bố mẹ và con thương phẩm để đưa vào nuôi hậu bị, chọn nái bố mẹ, phấn đấu đến cuối năm 2020 tăng nguồn heo nái lên 170.000 con, báo Hà Nội Mới đưa tin. 

BẢNG GIÁ HEO HƠI DỰ BÁO NGÀY 3/8/2020
Tỉnh/thành Khoảng giá (đồng/kg) Tăng (+)/giảm (-) đồng/kg
Hà Nội 87.000-88.000 -1.000
Hải Dương 89.000-90;000 Giữ nguyên
Thái Bình 88.000-89.000 -3.000
 Bắc Ninh 88.000-89.000 Giữ nguyên
Hà Nam 89.000-90.000 -1.000
Hưng Yên 90.000-91.000 -1.000
Nam Định 89.000-90.000 -2.000
Ninh Bình 89.000-90.000 -1.000
Hải Phòng 89.000-90.000 Giữ nguyên
Quảng Ninh 90.000-91.000 Giữ nguyên
Lào Cai 90.000-92.000 Giữ nguyên
Tuyên Quang 87.000-88.000 -1.000
Cao Bằng 90.000-91.000 Giữ nguyên
Bắc Kạn 89.000-90.000 Giữ nguyên
Phú Thọ 89.000-90.000 -1.000
Thái Nguyên 89.000-90.000 -2.000
Bắc Giang 90.000-91.000 Giữ nguyên
Vĩnh Phúc 87.000-88.000 -1.000
 Lạng Sơn 90.000-91.000 Giữ nguyên
Lai Châu 90.000-91.000 Giữ nguyên
Thanh Hóa 86.000-87.000 Giữ nguyên
Nghệ An 85.000-87.000 Giữ nguyên
Hà Tĩnh 87.000-88.000 Giữ nguyên
Quảng Bình 80.000-82.000 Giữ nguyên
Quảng Trị 83.000-84.000 -1.000
TT-Huế 83.000-84.000 -1.000
Quảng Nam 83.000-84.000 Giữ nguyên
Quảng Ngãi 80.000-81.000 Giữ nguyên
Bình Định 83.000-84.000 Giữ nguyên
Phú Yên 81.000-82.000 Giữ nguyên
Ninh Thuận 87.000-88.000 -1..000
Khánh Hòa 86.000-87.000 Giữ nguyên
Bình Thuận 87.000-88.000 Giữ nguyên
Đắk Lắk 84.000-85.000 -1.000
Đắk Nông 80.000-81.000 Giữ nguyên
Lâm Đồng 86.000-87.000 Giữ nguyên
Gia Lai 84.000-85.000 Giữ nguyên
Đồng Nai 90.000-92.000 Giữ nguyên
TP.HCM 87.000-88.000 -1.000
Bình Dương 86.000-87.000 Giữ nguyên
Bình Phước 84.000-85.000 Giữ nguyên
BR-VT 87.000-88.000 Giữ nguyên
Long An 87.000-88.000 Giữ nguyên
Tiền Giang 87.000-88.000 Giữ nguyên
Bạc Liêu  87.000-88.000 Giữ nguyên
Bến Tre 86.000-87.000 Giữ nguyên
Trà Vinh 89.000-90.000 Giữ nguyên
Cần Thơ 86.000-87.000 Giữ nguyên
Hậu Giang 87.000-88.000 Giữ nguyên
Cà Mau 87.000-88.000 Giữ nguyên
Vĩnh Long 87.000-88.000 +1.000
An Giang 6.000-87.000 Giữ nguyên
Kiêng Giang 87.000-88.000 Giữ nguyên
Sóc Trăng 87.000-88.000 Giữ nguyên
Đồng Tháp 86.000-87.000 Giữ nguyên
Tây Ninh 88.000-89.000 Giữ nguyên
Từ khóa:
id news:208670