Vàng Mua Bán
SJC HN 55,700 56,170
SJC HCM 55,700 56,150
DOJI AVPL / HN 55,700 56,100
DOJI AVPL / HCM 55,700 56,150
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,060.00 23,090.00
EUR 26,390.05 26,656.62
GBP 28,744.37 29,034.72
JPY 213.51 215.67
Chứng khoán
VNIndex 913.13 6.94 0.76%
HNX 133.14 0.95 0.71%
UPCOM 60.66 -0.08 -0.14%

COVID-19 mang tư duy ‘mãi không chịu trưởng thành’ đè nặng kinh tế Nhật Bản

TẤT ĐẠT 22:48 | 12/08/2020

Kinh tế Nhật Bản có thể suy giảm đến 6,8% trong năm nay nếu như chính quyền Thủ tướng Shinzo Abe và Ngân hàng Trung ương không hành động sáng tạo.

Tạp chí Forbes cho rằng, nếu hỏi người dân Tokyo tại sao sự phát triển của Nhật Bản kể từ những năm 1980 đến nay lại thất bại, họ sẽ đổ lỗi cho một trong hai điều: chiến tranh thương mại hoặc COVID-19. Một số người còn cảm thấy là do cả hai điều trên.

“Nhưng hãy trung thực về nguyên nhân thực sự. Đừng như Peter Pan (nhân vậy hoạt hình của Disney, một cậu bé luôn mãi không chịu trưởng thành - PV)”, Forbes nhận định.

Kinh tế Nhật Bản không thể “bay” lên

Forbes chỉ mặt, không ai khác ngoài Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản Haruhiko Kuroda đã từng đổ lỗi cho chiến tranh thương mại vào năm 2015 khi ông giải trình về sự đi lùi của nền kinh tế lớn thứ hai châu Á.

Kuroda lập luận rằng: “Tôi tin rằng nhiều người trong số các bạn đã quen thuộc với câu chuyện về Peter Pan, trong đó có câu nói, 'ngay khi bạn nghi ngờ liệu mình có thể bay hay không, bạn sẽ vĩnh viễn không thể làm được điều đó’”.

Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản Haruhiko Kuroda từng dùng truyện cổ tích Disney để phân tích kinh tế Nhật Bản. Ảnh: TechGraph
Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản Haruhiko Kuroda từng dùng truyện cổ tích Disney để phân tích kinh tế Nhật Bản. Ảnh: TechGraph

5 năm trôi qua, kế hoạch vực dậy nền kinh tế xứ sở Mặt trời mọc cũng không thể “bay” lên được. Chắc chắn, màn đánh thuế của Tổng thống Donald Trump đối với Trung Quốc là một tác nhân nhưng theo Forbes, đó chỉ là phụ. Tương tự, hiện nay cú sốc COVID-19 chắc chắn đang làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng không chỉ có nước này chịu tổn thương mà toàn cầu nói chung cũng đang nếm mùi. 

Cả tiền lương và lạm phát đều không tăng lên rõ rệt trong 5 năm từ năm 2013 đến năm 2018, khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản thực thi nhiều chính sách tiền tệ khác nhau. Trong quý IV/2019, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội của Nhật Bản đã giảm 7,2% so với cùng kỳ năm 2018, do tăng thuế tiêu dùng từ 8% lên 10% vào đầu tháng 10. Đây là quý thứ hai liên tiếp, tăng trưởng kinh tế Nhật Bản sụt giảm.

Nhiều chuyên gia đồng tình rằng, kinh tế nước này đã rơi vào tình trạng “suy thoái kỹ thuật”. Đáng nói, tình trạng này còn diễn ra trước khi các doanh nghiệp và người tiêu dùng Nhật Bản nghe nói đến COVID-19.

Forbes bỡn cợt: “Hóa ra, việc khiến 126 triệu người ngưng hoài nghi cần đòi hỏi nhiều thứ hơn chỉ là một câu nói. Việc này càng đòi hỏi nhiều hơn đối với một nền kinh tế đang già hóa và không có sức cạnh tranh”.

Trong khi đó, Bloomberg dẫn báo cáo mới đây của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản (JCER) cho thấy, nền kinh tế nước này sẽ chẳng thể khôi phục lại những gì đã mất cho đến tận tháng 4/2024.

Cụ thể, báo cáo dự đoán nền kinh tế Nhật Bản sẽ suy giảm 6,8% trong năm tài khóa tính đến tháng 3/2021 và có sự hồi phục rất chậm sau đó. Con số suy giảm 6,8% của JCER cao hơn so với mức dự báo 4,7% của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản.

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Ngoài ra, JCER cũng cho biết tổng GDP của Nhật Bản năm 2035 sẽ thấp hơn 2,3% so với dự đoán trước đó. Từ nay đến năm 2035, nền kinh tế này sẽ mất khoảng 2.100 tỷ USD do các tác động tiêu cực từ COVID-19.

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cần được trao quyền nhiều hơn

Nhận thức về sự đi lùi đáng báo động cuối cùng đã chạm đến Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản. Tuần trước, ông Haruhiko Kuroda, lần đầu tiên kể từ khi nhậm chức Thống đốc vào năm 2013, đã bắt đầu nói chuyện một cách thực tế về sự tăng trưởng chậm lại của kinh tế nước Nhật sắp tới.

Cũng quan trọng không kém, ông đã lật lại kịch bản mà Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã trình Thủ tướng Shinzo Abe. Trọng tâm là nước này tiến tới đạt mục tiêu lạm phát 2%. Trong nỗ lực giảm bớt thiệt hại do dịch bệnh, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã nới lỏng chính sách tiền tệ trong tháng 4 và tháng 5.

Thủ tướng Abe Shinzo cũng vừa quyết định tăng gói kích thích kinh tế lên mức kỷ lục 2.200 tỷ USD. Điều này giúp mở rộng nguồn cung tài chính, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ, giảm thuế và các phúc lợi xã hội, đồng thời cung cấp một số khoản cho vay với lãi suất 0% dành cho các công ty tư nhân.

Tuy nhiên, Forbes cũng lưu ý rằng, ông Abe đã từng cam kết nới lỏng thị trường lao động, khuyến khích đổi mới, cắt giảm quan liêu, trao quyền cho phụ nữ, nâng cao năng suất và quốc tế hóa quản trị doanh nghiệp. Vì dịch bệnh mà Thủ tướng Nhật Bản đã chậm chân những việc trên trong khi Forbes cho rằng, đó mới là biện pháp lâu dài với nước Nhật.

Thủ tướng Shinzo Abe muốn phát hành trái phiếu chính phủ để huy động nguồn tài chính cho gói kích thích kinh tế. Ảnh: Getty
Thủ tướng Shinzo Abe muốn phát hành trái phiếu chính phủ để huy động nguồn tài chính cho gói kích thích kinh tế. Ảnh: Getty

Ngoài ra, kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ để huy động đủ nguồn tài chính cho gói kích thích kinh tế cũng bị giới tài chính không tán đồng. Nhiều chuyên gia cảnh báo, chính sách này có thể khiến gánh nặng nợ gia tăng, trong bối cảnh tỷ lệ nợ công trên GDP của nước này đã vượt mức 200%.

Forbes cho rằng, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản nên điều chỉnh lại việc mua trái phiếu chính phủ để giúp các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng trong khu vực, tăng trưởng tín dụng. Thay vào đó, Ngân hàng có thể yêu cầu các nhà lập pháp trao quyền cho họ trong việc mua nợ từ các công ty cam kết không sa thải công nhân hoặc mua cổ phiếu từ các công ty sẵn sàng tăng lương cho lao động.

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cũng nên làm việc với Bộ Tài chính để tìm ra cách thu được nhiều tiền mặt hơn từ tay người tiêu dùng. “Các chi tiết cụ thể về chi tiêu công 2.200 tỷ USD của ông Abe đang không rõ ràng và tập trung chỉ vào các tập đoàn khổng lồ”, Forbes phê phán.

“Để thay đổi kịch bản và khiến các nhà đầu tư, doanh nhân và các hộ gia đình Nhật Bản thán phục, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản phải điều chỉnh lại chính sách của mình và sáng tạo hơn”, Forbes đưa ra lời khuyên.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1068

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

980

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

31.777.987

CA NHIỄM

975.471

CA TỬ VONG

23.394.845

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 394 31 359
Hà Nội 161 0 154
Quảng Nam 101 3 94
Hồ Chí Minh 77 0 77
Bà Rịa - Vũng Tàu 47 0 30
Thái Bình 31 0 31
Bạc Liêu 27 0 27
Hải Dương 25 0 23
Ninh Bình 23 0 23
Vĩnh Phúc 19 0 19
Khánh Hòa 19 0 12
Thanh Hóa 18 0 18
Quảng Ninh 11 0 11
Bắc Giang 10 0 9
Bình Thuận 9 0 9
Nam Định 8 0 7
Quảng Ngãi 7 0 7
Tây Ninh 7 0 7
Quảng Trị 7 1 2
Đồng Tháp 6 0 6
Hoà Bình 6 0 6
Hà Nam 5 0 5
Cần Thơ 5 0 3
Trà Vinh 5 0 5
Hưng Yên 5 0 5
Lạng Sơn 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Hải Phòng 3 0 3
Đồng Nai 3 0 3
Đắk Lắk 3 0 3
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Thái Nguyên 1 0 1
Hà Giang 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Bình Dương 1 0 0
Bắc Ninh 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Phú Thọ 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 7.097.937 205.471 4.346.110
India 5.640.496 90.021 4.581.820
Brazil 4.595.335 138.159 3.945.627
Russia 1.115.810 19.649 917.949
Colombia 777.537 24.570 650.801
Peru 776.546 31.586 629.094
Mexico 705.263 74.348 506.732
Spain 682.267 30.904 0
South Africa 663.282 16.118 592.904
Argentina 652.174 13.952 517.228
France 468.069 31.416 93.538
Chile 448.523 12.321 423.176
Iran 429.193 24.656 363.737
United Kingdom 403.551 41.825 0
Bangladesh 352.178 5.007 260.790
Saudi Arabia 330.798 4.542 312.684
Iraq 327.580 8.682 261.757
Pakistan 307.418 6.432 293.916
Turkey 306.302 7.639 269.696
Italy 300.897 35.738 219.670
Philippines 291.789 5.049 230.643
Germany 277.176 9.491 247.900
Indonesia 252.923 9.837 184.298
Israel 193.374 1.285 140.751
Ukraine 181.237 3.642 79.901
Canada 146.663 9.234 126.904
Bolivia 131.453 7.693 90.853
Ecuador 127.643 11.126 102.852
Qatar 123.917 211 120.766
Romania 114.648 4.503 92.169
Dominican Republic 109.269 2.064 82.741
Kazakhstan 107.450 1.699 102.064
Panama 107.284 2.285 83.318
Morocco 105.346 1.889 85.883
Belgium 105.226 9.955 19.039
Egypt 102.254 5.806 91.143
Kuwait 100.683 588 91.612
Netherlands 98.240 6.291 0
Oman 94.711 865 86.195
Sweden 89.436 5.870 0
Guatemala 86.623 3.137 75.869
United Arab Emirates 86.447 405 76.025
China 85.307 4.634 80.505
Poland 80.699 2.316 64.972
Japan 79.438 1.508 71.648
Belarus 76.104 791 73.386
Honduras 72.306 2.206 23.230
Ethiopia 70.422 1.127 28.991
Portugal 69.663 1.925 45.974
Venezuela 68.453 564 57.774
Costa Rica 66.689 760 25.706
Nepal 66.632 429 48.061
Bahrain 66.402 227 59.367
Singapore 57.627 27 57.262
Nigeria 57.613 1.100 48.836
Czech Republic 53.158 531 26.151
Uzbekistan 52.685 442 49.067
Switzerland 50.664 2.054 42.100
Algeria 50.214 1.689 35.307
Armenia 47.667 938 42.676
Moldova 47.446 1.230 35.542
Ghana 46.062 297 45.258
Kyrgyzstan 45.542 1.063 41.796
Azerbaijan 39.378 578 36.949
Austria 39.303 771 30.312
Afghanistan 39.096 1.445 32.576
Kenya 37.218 659 24.147
Palestine 36.580 269 25.469
Paraguay 34.828 705 19.257
Ireland 33.444 1.792 23.364
Serbia 32.999 743 31.536
Lebanon 30.852 315 12.878
Libya 29.446 460 15.913
El Salvador 27.954 814 22.113
Australia 26.972 859 24.218
Bosnia Herzegovina 25.737 778 18.359
Denmark 23.799 641 18.035
South Korea 23.216 388 20.650
Cameroon 20.598 416 19.124
Hungary 19.499 694 4.559
Ivory Coast 19.343 120 18.682
Bulgaria 19.123 767 13.748
Macedonia 16.867 705 14.084
Madagascar 16.136 226 14.743
Greece 15.928 352 9.989
Croatia 15.136 255 12.987
Senegal 14.759 302 11.621
Zambia 14.389 331 13.629
Sudan 13.578 836 6.760
Norway 13.153 267 10.371
Albania 12.666 367 7.042
Tunisia 11.260 164 2.386
Namibia 10.607 116 8.359
Congo [DRC] 10.523 271 10.011
Guinea 10.387 65 9.780
Malaysia 10.358 130 9.563
Maldives 9.818 34 8.438
French Guiana 9.738 65 9.400
Tajikistan 9.432 73 8.199
Finland 9.195 341 7.700
Montenegro 9.138 146 5.544
Gabon 8.704 54 7.875
Haiti 8.633 223 6.482
Luxembourg 8.016 124 6.848
Zimbabwe 7.711 226 5.979
Mauritania 7.403 161 7.011
Mozambique 7.114 45 4.064
Myanmar 6.959 116 1.951
Slovakia 6.931 40 3.668
Uganda 6.712 64 2.778
Malawi 5.739 179 4.065
Jordan 5.679 33 3.707
Djibouti 5.407 61 5.338
Cape Verde 5.337 52 4.742
Swaziland 5.307 106 4.672
Jamaica 5.270 75 1.444
Cuba 5.222 117 4.506
Nicaragua 5.073 149 2.913
Hong Kong 5.047 103 4.717
Equatorial Guinea 5.018 83 4.509
Democratic Republic Congo Brazzaville 5.002 89 3.887
Central African Republic 4.802 62 1.830
Suriname 4.759 100 4.541
Rwanda 4.738 27 2.991
Slovenia 4.558 142 3.048
Guadeloupe 4.487 42 2.199
Angola 4.236 155 1.462
Trinidad and Tobago 4.026 65 1.871
Georgia 3.913 23 1.574
Syria 3.877 178 983
Lithuania 3.859 87 2.225
Aruba 3.665 25 2.426
Mayotte 3.541 40 2.964
Gambia 3.540 110 2.002
Thailand 3.511 59 3.343
Bahamas 3.467 77 1.871
Somalia 3.465 98 2.877
Réunion 3.415 15 2.482
Sri Lanka 3.313 13 3.118
Mali 3.030 129 2.380
Estonia 2.976 64 2.385
Malta 2.814 23 2.113
South Sudan 2.660 49 1.290
Botswana 2.567 13 624
Guyana 2.437 67 1.361
Iceland 2.419 10 2.130
Guinea-Bissau 2.324 39 1.549
Benin 2.294 40 1.954
Sierra Leone 2.174 72 1.652
Yemen 2.028 586 1.240
Uruguay 1.934 46 1.645
Burkina Faso 1.907 56 1.252
New Zealand 1.824 25 1.737
Togo 1.683 41 1.290
Andorra 1.681 53 1.199
Belize 1.635 21 967
Cyprus 1.618 22 1.369
Latvia 1.560 36 1.248
Lesotho 1.424 33 754
French Polynesia 1.394 2 1.170
Liberia 1.336 82 1.218
Martinique 1.290 20 98
Niger 1.193 69 1.104
Chad 1.155 81 967
Vietnam 1.068 35 957
Sao Tome and Principe 908 15 880
San Marino 723 42 669
Diamond Princess 712 13 651
Turks and Caicos 672 5 581
Channel Islands 652 48 575
Sint Maarten 594 20 512
Papua New Guinea 527 7 232
Taiwan 509 7 479
Tanzania 509 21 183
Burundi 474 1 462
Comoros 470 7 453
Faeroe Islands 448 0 414
Mauritius 367 10 339
Eritrea 364 0 309
Gibraltar 355 0 323
Isle of Man 340 24 312
Saint Martin 330 6 206
Mongolia 313 0 302
Curaçao 291 1 103
Cambodia 275 0 274
Bhutan 261 0 195
Cayman Islands 210 1 205
Monaco 197 1 163
Barbados 189 7 173
Bermuda 180 9 166
Brunei 145 3 142
Seychelles 143 0 136
Liechtenstein 115 1 110
Antigua and Barbuda 96 3 92
British Virgin Islands 69 1 48
Saint Vincent and the Grenadines 64 0 64
Caribbean Netherlands 54 1 18
Macau 46 0 46
Fiji 32 2 28
Timor-Leste 27 0 27
Saint Lucia 27 0 26
New Caledonia 26 0 26
Grenada 24 0 24
Dominica 24 0 18
St. Barth 23 0 16
Laos 23 0 22
Saint Kitts and Nevis 19 0 17
Greenland 14 0 14
Falkland Islands 13 0 13
Montserrat 13 1 12
Vatican City 12 0 12
Saint Pierre Miquelon 11 0 5
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Anguilla 3 0 3
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/
Từ khóa:
id news:209669