Vàng Mua Bán
SJC HN 55,950 56,470
SJC HCM 55,950 56,450
DOJI AVPL / HN 55,850 56,250
DOJI AVPL / HCM 55,950 56,350
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,060.00 23,090.00
EUR 26,376.50 26,642.93
GBP 29,198.52 29,493.45
JPY 214.71 216.88
Chứng khoán
VNIndex 925.47 6.39 0.69%
HNX 135.34 0.97 0.72%
UPCOM 62.74 0.01 0.01%

COVID-19 đã tạo ra các tỷ phú fintech như thế nào?

NHẬT SANG 23:49 | 29/09/2020

Việc nhiều người dùng ở nhà và gia tăng nhu cầu mua sắm trực tuyến đã tạo động lực thúc đẩy cho các mô hình trả góp trực tuyến và ngân hàng điện tử phát triển mạnh, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều tỷ phú mới.

Vào năm 2015, Nick Molnar vẫn đang sống với cha mẹ ở Sydney (Australia). Anh dùng chiếc máy tính để bàn trong phòng ngủ từ thời thơ ấu của mình để bán đồ trang sức. Dần dần, từ đồng đồ Seiko 250 USD đến nhẫn đính hôn 10.000 USD, chàng trai 25 tuổi này đã trở thành người bán trang sức hàng đầu của Australia trên eBay.

Cùng năm đó, Molnar hợp tác với Anthony Eisen, một cựu nhân viên ngân hàng đầu tư, hơn anh 19 tuổi. Họ đồng sáng lập Afterpay, một dịch vụ trực tuyến cho phép người mua hàng từ Hoa Kỳ, Anh, Úc, New Zealand và Canada thanh toán các mặt hàng có giá trị nhỏ như giày và áo sơ mi, trong 4 lần thanh toán không lãi suất, với kỳ hạn là 6 tuần.

Hai đồng sáng lập của Afterpay Nick Molnar (phải) và Anthony Eisen. Ảnh: The Autralian
Hai đồng sáng lập của Afterpay Nick Molnar (phải) và Anthony Eisen. Ảnh: The Autralian

Nick Molnar, giờ đã là một tỷ phú 30 tuổi, nói: “Tôi là một Millennial (chỉ thế hệ đầu tiên tiếp cận với các phương tiện truyền thông và mạng internet) lớn lên trong cuộc khủng hoảng năm 2008. Và tôi đã chứng kiến sự thay đổi lớn từ tín dụng sang ghi nợ. Vì sợ phải gánh khoản nợ lãi suất cao trong thẻ tín dụng của mình, nhiều người đã nhanh chóng chuyển sang dùng thẻ ghi nợ để có thể mua và lấy hàng ngay, trong khi thanh toán muộn hơn một chút”.

Sau 5 năm sáng lập Afterpay, Molnar và Eisen, mỗi người sở hữu khoảng 7% cổ phần của công ty, đã trở thành tỷ phú nhờ đại dịch.

Khi bắt đầu thực hiện giãn cách xã hội, cổ phiếu của Afterpay đã sụt giảm. Tuy nhiên, nhờ vào sự gia tăng kinh doanh gắn liền với thương mại điện tử, cổ phiếu của công ty này đã tăng gần gấp 10 lần, so với giá công khai vào năm 2016. Chỉ trong quý 2, Afterpay đã xử lý 3,8 tỷ USD giao dịch, tăng 127% so với cùng kỳ năm trước đó.

Mua trước, trả sau

Molnar và Eisen không phải là những người duy nhất có vận may tăng vọt trong vài tháng qua. Theo phân tích của Forbes, ít nhất 5 doanh nhân fintech bao gồm cả 2 người Australia đã lọt vào bảng xếp hạng tỷ phú do đại dịch. Những người khác gồm Chris Britt – người sáng lập ngân hàng kỹ thuật số Chime, Vlad Tenev và Baiju – đồng CEO của ứng dụng giao dịch chứng khoán Robinhood.

Một số nhà sáng lập khác từ các công ty như Klarna và Marqeta cũng đã có những bước tăng trưởng và bất ngờ đạt được vị thế tỷ phú.

Cũng như nhiều lĩnh vực khác, COVID-19 đã tạo ra cả kẻ thắng và người thua trong lĩnh vực fintech. Ví dụ, LendingClub, cung cấp các khoản vay cá nhân cho những người tiêu dùng có rủi ro cao hơn, đã sa thải 30% nhân viên. Công ty cho vay kinh doanh nhỏ On Deck cũng “vấp phải” tình trạng tương tự.

Theo chiều ngược lại, đối với một loạt các công nghệ fintech liên quan đến thanh toán và người tiêu dùng, COVID-19 đã mang đến một sự phát triển mạnh mẽ. Ví dụ điển hình cho điều này là “người khổng lồ” thương mại điện tử Amazon và các ứng dụng làm việc tại nhà như Zoom, Slack và DocuSign.

Victoria, một lãnh đạo đầu tư fintech tại Felicis Ventures (felicis.com), cho biết: “Việc sử dụng fintech của người tiêu dùng đã bùng phát mạnh mẽ, đặc biệt là ở nhóm tuổi 20 đến đầu 40. Và khi đại dịch xảy ra, nhóm tuổi này đã được mở rộng hơn nữa, bao gồm cả những người từ 40 đến 60 tuổi”.

Theo đó, COVID-19 đang hỗ trợ cho sự phát triển của nhiều công ty fintech, trong đó có một số công ty hỗ trợ thanh toán, khi ngày càng nhiều người tiêu dùng chuyển sang chi tiêu trực tuyến cùng với các dịch vụ giao hàng.

Marqeta, một công ty xử lý thanh toán chuyên biệt có khách hàng bao gồm Instacart, DoorDash và Postmate, đã đàm phán để đưa ra thị trường với mức định giá 8 tỷ USD, gấp 4 lần so với giá trị của nó vào tháng 3/2019. Điều này sẽ mang lại cho CEO Jason Gardner, người sở hữu khoảng 10% Marqeta, sẽ có số cổ phần trị giá 800 triệu USD.

 Thẻ tín dụng “yếu thế”, thẻ ghi nợ “lên hương”

Trong quý 2 năm 2020, trong bối cảnh “khóa cửa” vì dịch bệnh, người tiêu dùng đã cắt giảm chi tiêu cho du lịch, nhà hàng và các mặt hàng xa xỉ mà họ thường sử dụng trong thẻ tín dụng của mình, nhưng vẫn tiếp tục chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu và các mặt hàng nhỏ hơn bằng thẻ ghi nợ.

Cũng trong quý này, lượng giao dịch thẻ tín dụng Visa giảm 24% so với năm trước, trong khi giao dịch thẻ ghi nợ tăng 10%, theo nghiên cứu của công ty MoffettNathanson. Thẻ ghi nợ cũng là phương tiện chi tiêu thường xuyên nhất được cung cấp bởi các ngân hàng công nghệ như SoFi, Dave và MoneyLion.

  Khối lượng giao dịch tín dụng và ghi nợ qua thẻ visa tại Mỹ theo MoffettNathanson.

Khối lượng giao dịch tín dụng và ghi nợ qua thẻ visa tại Mỹ theo MoffettNathanson.

Đặc biệt, ngân hàng kỹ thuật số Chime, có trụ sở tại San Francisco, đã sử dụng các khoản thanh toán kích cầu để làm lợi thế của mình. Vào giữa tháng 4, khoảng một tuần trước khi ngân phiếu kích cầu 1.200 USD của chính phủ bắt đầu đổ vào tài khoản của người Mỹ, công ty đã ứng trước cho khách hàng số tiền đó, cuối cùng kéo dài hơn 1,5 tỷ USD.

Britt, CEO của Chime, nói: “Đại dịch đã làm suy giảm tổng chi tiêu của người tiêu dùng và tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao 8,4%. Đây là hai yếu tố ảnh hưởng đến cơ sở khách hàng có thu nhập trung bình của Chime. Tuy nhiên, trên cơ sở mỗi người dùng, chi tiêu trung bình của mỗi khách hàng đã tăng so với năm ngoái”.

Hiện tại, doanh thu hàng năm của Chime đang ở mức 600 triệu USD. Tuy nhiên, theo công bố vào giữa tháng 9, mức định giá của công ty này lên đến 14,5 tỷ USD cùng với 485 triệu USD gây quỹ. Con số này ở mức gấp 24 lần doanh thu của Chime.

Một số nhà đầu tư đang tự hỏi liệu Chime có đáng được giá trị cao như vậy không, trong khi Green Dot, một công ty fintech giao dịch công khai cung cấp tài khoản séc và thẻ ghi nợ, có giao dịch với doanh thu gấp đôi Chime.

Để trả lời cho vấn đề này, Britt nói: “Chúng tôi giống một doanh nghiệp xử lý thanh toán hơn. Vì hầu hết doanh thu của Chime đều đến từ việc trao đổi, phí mà người bán phải trả khi người dùng của Chime quẹt thẻ ghi nợ của họ”.

Theo Forbes, ước tính Britt có ít nhất 10% cổ phần của Chime. Điều này có nghĩa là, số cổ phần của CEO này trị giá hơn 1,3 tỷ USD (Forbes áp dụng chiết khấu 10% cho tất cả cổ phần của công ty tư nhân). Và Britt cũng đang lên kế hoạch đưa Chime IPO.

Nhiều công ty fintech vụt sáng

Việc bị mắc kẹt tại nhà, trong khi thị trường chứng khoán liên tục biến động, các gói hỗ trợ của chính phủ Mỹ tung ra đã khiến một bộ phận thế hệ Y và X ở Mỹ trở thành những nhà đầu tư F0.

Điều này đã giúp các ứng dụng giao dịch chứng khoán như Robinhood có lợi thế để phát triển mạnh mẽ. Vòng gây quỹ gần đây nhất của Robinhood vào tháng 9 đã định giá 11,7 tỷ USD và các nhà đồng sáng lập của công ty này có giá trị tài sản ròng là 1 tỷ USD mỗi người.

  Hai đồng sáng lập của Robinhood Baiju Bhatt (trái) và Vladimir Tenev. Ảnh: Forbes

Hai đồng sáng lập của Robinhood Baiju Bhatt (trái) và Vladimir Tenev. Ảnh: Forbes

Tuy nhiên, khi xem xét việc Morgan Stanley mua lại E-Trade với giá 13 tỷ USD và Schwab mua TD Ameritrade với giá 26 tỷ USD, nhiều người nghĩ rằng Robinhood có thể thu được định giá 20 tỷ USD nếu công ty này được công khai hoặc được mua lại.

Một đối thủ “đáng gờm” khác trong lĩnh vực fintech là Take Klarna. Công ty này được thành lập tại Stockholm (Thụy Điển) vào năm 2005 và thâm nhập thị trường Mỹ vào năm 2016. Hai trong số ba nhà sáng lập của công ty, Sebastian Siemiatkowski và Niklas Adalberth, là những người đi tiên phong trong mô hình “mua ngay trả sau”.

Họ gọi đó là “thử trước khi mua” và cho phép mọi người sở hữu sản phẩm trong 30 ngày trước khi thực hiện khoản thanh toán đầu tiên. Điều này hấp dẫn hơn rất nhiều so với cách đặt hàng cũ khi mà người mua phải trả góp tất cả trước khi nhận được một món hàng. CEO Sebastian Siemiatkowski cũng cho biết, công ty đang sử dụng tài trợ trả góp để xây dựng một doanh nghiệp ngân hàng.

  CEO của Klarne Sebastian Siemiatkowski.

CEO của Klarne Sebastian Siemiatkowski.

Đại dịch đã thúc đẩy công việc kinh doanh của Klarna phát triển mạnh. Vào cuối nửa đầu năm 2020, cơ sở khách hàng tại Hoa Kỳ của công ty đạt 9 triệu người, tăng 55% so với cùng kỳ năm trước.

Trên toàn cầu, 55.000 người tiêu dùng đang tải xuống ứng dụng Klarna mỗi ngày, gấp hơn 2 lần so với tốc độ của năm ngoái. Klarna hiện đã có mặt tại 19 quốc gia, có 90 triệu người dùng và dự kiến sẽ mang lại doanh thu hơn 1 tỷ USD trong năm nay. Khi tăng một vòng tài trợ mới vào tuần trước, định giá của Klarna đã tăng gần gấp đôi so với một năm trước, đạt 10,7 tỷ USD.

Theo đánh giá của Forbes, mức định giá cao “ngất ngưởng” hiện tại của các công ty fintech dựa trên cơ sở nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng vẫn đang tăng mạnh và thói quen mua sắm trực tuyến được hình thành trong đại dịch vẫn được duy trì.

Tuy nhiên, sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi fintech mua trả góp thu hút được nhiều khách hàng và sự chú ý hơn thì các công ty này cũng phải đối mặt với sự giám sát bổ sung từ các cơ quan quản lý. Vào tháng 3, Afterpay đã chi hơn 1 triệu USD, bao gồm 905.000 USD tiền hoàn lại cho người tiêu dùng, sau khi Bộ Giám sát Kinh doanh của California (DBO) kết luận rằng, Afterpay đang hoạt động kinh doanh cho vay không có giấy phép.

Sau đó, công ty cũng đã lên tiếng phản bác: “Afterpay bác bỏ quan điểm cho rằng công ty hoạt động bất hợp pháp. Mặc dù công ty không nghĩ rằng cần yêu cầu giấy phép từ DBO nhưng chúng tôi đã thực hiện nó như một phần thỏa thuận”. Người phát ngôn của Afterpay cho biết thêm, công ty đã đăng ký và đã được cấp phép ở các tiểu bang khác.

Năm 2017, Klarna bị phạt 15.000 USD ở New Hampshire vì hoạt động mà không có giấy phép cho vay. Hiện tại, Klarna cũng có có giấy phép ở mọi tiểu bang của Hoa Kỳ.  

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1177

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

1062

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

45.963.929

CA NHIỄM

1.194.684

CA TỬ VONG

33.280.091

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 394 31 360
Hà Nội 163 0 163
Quảng Nam 103 3 98
Hồ Chí Minh 82 0 78
Bà Rịa - Vũng Tàu 59 0 48
Bạc Liêu 48 0 44
Thái Bình 34 0 31
Ninh Bình 29 0 23
Hải Dương 27 0 25
Đồng Tháp 22 0 12
Khánh Hòa 22 0 19
Bắc Giang 21 0 10
Vĩnh Phúc 19 0 19
Thanh Hóa 18 0 18
Quảng Ninh 16 0 11
Nam Định 12 0 8
Bình Thuận 9 0 9
Hưng Yên 8 0 7
Tây Ninh 7 0 7
Cần Thơ 7 0 6
Quảng Trị 7 1 5
Quảng Ngãi 7 0 7
Bình Dương 6 0 1
Hoà Bình 6 0 6
Hà Nam 5 0 5
Trà Vinh 5 0 5
Lạng Sơn 4 0 4
Đồng Nai 4 0 4
Bắc Ninh 4 0 1
Hà Tĩnh 4 0 4
Hải Phòng 3 0 3
Thanh Hoá 3 0 2
Phú Thọ 3 0 3
Đắk Lắk 3 0 3
Ninh Thuận 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thái Nguyên 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hà Giang 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 9.318.043 235.180 6.025.295
India 8.137.119 121.681 7.432.829
Brazil 5.519.528 159.562 4.966.264
Russia 1.618.116 27.990 1.215.414
France 1.331.984 36.565 116.533
Spain 1.264.517 35.878 0
Argentina 1.157.179 30.792 961.101
Colombia 1.063.151 31.135 959.433
United Kingdom 989.745 46.229 0
Mexico 918.811 91.289 673.457
Peru 900.180 34.411 822.316
South Africa 723.682 19.230 653.052
Italy 647.674 38.321 283.567
Iran 604.952 34.478 477.300
Germany 517.720 10.523 345.700
Chile 508.571 14.158 485.152
Iraq 470.633 10.862 397.241
Belgium 412.314 11.452 24.906
Indonesia 410.088 13.869 337.801
Bangladesh 406.364 5.905 322.703
Ukraine 387.481 7.196 158.928
Philippines 380.729 7.221 331.046
Turkey 373.154 10.177 322.465
Saudi Arabia 346.880 5.383 333.409
Netherlands 341.374 7.345 0
Poland 340.834 5.351 134.724
Pakistan 332.993 6.806 314.066
Czech Republic 323.673 3.078 137.575
Israel 313.701 2.514 299.822
Romania 235.586 6.867 167.897
Canada 231.999 10.110 193.937
Morocco 215.294 3.625 177.925
Nepal 168.235 920 128.958
Ecuador 167.147 12.632 141.759
Switzerland 154.251 2.277 65.200
Bolivia 141.631 8.715 111.178
Portugal 137.272 2.468 77.449
Panama 132.867 2.688 109.369
Qatar 132.343 232 129.349
United Arab Emirates 131.508 490 127.607
Dominican Republic 126.332 2.236 104.486
Kuwait 125.337 773 116.202
Sweden 124.355 5.938 0
Oman 114.434 1.208 103.060
Kazakhstan 111.953 1.825 106.310
Costa Rica 108.866 1.371 66.202
Egypt 107.376 6.258 99.353
Guatemala 107.339 3.714 96.752
Japan 99.622 1.744 91.890
Austria 99.576 1.082 64.987
Belarus 97.499 977 85.982
Honduras 96.888 2.669 40.129
Ethiopia 95.789 1.464 51.713
Venezuela 91.589 793 86.335
Armenia 89.813 1.341 55.317
China 85.973 4.634 80.984
Bahrain 81.466 319 78.365
Lebanon 79.529 625 40.352
Moldova 75.201 1.766 55.190
Hungary 71.413 1.699 17.953
Jordan 69.306 772 7.600
Uzbekistan 66.628 563 63.864
Nigeria 62.691 1.144 58.430
Paraguay 62.596 1.387 42.337
Ireland 61.059 1.908 23.364
Libya 60.628 847 34.369
Tunisia 59.813 1.317 5.032
Kyrgyzstan 58.394 1.142 49.522
Singapore 58.015 28 57.909
Slovakia 57.664 219 12.617
Algeria 57.651 1.956 40.014
Azerbaijan 54.174 718 42.996
Kenya 53.797 981 35.876
Palestine 53.075 481 45.896
Myanmar 51.496 1.219 31.330
Bulgaria 51.041 1.254 19.877
Bosnia Herzegovina 48.137 1.212 27.870
Ghana 48.055 320 47.169
Croatia 46.547 531 30.910
Denmark 45.225 719 34.052
Serbia 45.137 814 31.536
Afghanistan 41.425 1.536 34.321
Georgia 38.936 307 22.691
Greece 37.196 620 9.989
El Salvador 33.445 975 29.186
Slovenia 32.503 315 11.208
Malaysia 30.889 249 20.248
Macedonia 30.488 982 20.448
Australia 27.590 907 25.324
South Korea 26.511 464 24.311
Cameroon 21.793 426 20.117
Ivory Coast 20.692 124 20.349
Albania 20.634 502 11.097
Norway 20.062 282 11.863
Montenegro 18.066 294 13.942
Luxembourg 17.134 152 10.081
Madagascar 16.968 244 16.301
Zambia 16.415 349 15.600
Finland 15.910 358 11.300
Senegal 15.605 323 14.732
Lithuania 13.823 157 4.691
Sudan 13.804 837 6.764
Namibia 12.907 133 11.000
Mozambique 12.777 91 10.437
Uganda 12.410 110 7.503
Guinea 12.072 72 10.550
Maldives 11.643 37 10.779
Congo [DRC] 11.306 307 10.585
Tajikistan 10.977 82 10.182
Angola 10.558 279 4.107
French Guiana 10.517 70 9.995
Sri Lanka 10.424 20 4.399
Haiti 9.057 232 7.429
Jamaica 9.005 205 4.442
Gabon 8.968 55 8.698
Cape Verde 8.694 95 7.913
Zimbabwe 8.362 242 7.884
Mauritania 7.700 163 7.416
Guadeloupe 7.605 126 2.242
French Polynesia 7.262 29 4.842
Cuba 6.801 128 6.178
Bahamas 6.644 142 4.257
Botswana 6.642 24 4.676
Malta 5.942 61 3.990
Malawi 5.923 184 5.323
Swaziland 5.909 117 5.557
Syria 5.683 285 1.937
Latvia 5.679 69 1.406
Trinidad and Tobago 5.668 107 4.455
Réunion 5.659 24 4.884
Djibouti 5.559 61 5.437
Nicaragua 5.514 156 4.225
Hong Kong 5.321 105 5.082
Democratic Republic Congo Brazzaville 5.290 92 3.887
Suriname 5.201 111 5.057
Rwanda 5.134 35 4.878
Equatorial Guinea 5.083 83 4.964
Estonia 4.905 73 3.811
Central African Republic 4.866 62 1.924
Iceland 4.797 13 3.788
Andorra 4.665 75 3.377
Aruba 4.494 37 4.286
Mayotte 4.366 44 2.964
Cyprus 4.217 25 1.882
Guyana 4.143 124 3.192
Somalia 3.941 104 3.185
Thailand 3.780 59 3.590
Gambia 3.670 119 2.876
Martinique 3.552 30 98
Mali 3.545 136 2.746
Belize 3.462 58 2.148
Uruguay 3.082 58 2.532
South Sudan 2.903 58 1.290
Benin 2.643 41 2.330
Burkina Faso 2.477 67 2.218
Guinea-Bissau 2.403 41 1.818
Sierra Leone 2.365 74 1.798
Togo 2.312 55 1.640
Yemen 2.062 599 1.366
New Zealand 1.957 25 1.857
Lesotho 1.953 44 975
Chad 1.483 98 1.314
Liberia 1.426 82 1.279
Niger 1.220 69 1.137
Vietnam 1.177 35 1.062
Curaçao 958 1 660
Sao Tome and Principe 945 16 904
San Marino 928 42 721
Channel Islands 841 48 713
Sint Maarten 822 22 753
Diamond Princess 712 13 659
Turks and Caicos 703 6 689
Gibraltar 693 0 590
Papua New Guinea 589 7 575
Burundi 582 1 511
Saint Martin 566 9 488
Taiwan 555 7 515
Comoros 537 7 498
Liechtenstein 513 2 347
Tanzania 509 21 183
Faeroe Islands 494 0 480
Eritrea 463 0 412
Mauritius 441 10 398
Monaco 355 2 273
Isle of Man 353 24 324
Bhutan 348 0 319
Mongolia 346 0 313
Cambodia 291 0 283
Cayman Islands 240 1 221
Barbados 236 7 218
Bermuda 199 9 176
Caribbean Netherlands 153 3 145
Seychelles 153 0 149
Brunei 148 3 143
Antigua and Barbuda 127 3 116
St. Barth 83 0 67
Saint Lucia 78 0 28
Saint Vincent and the Grenadines 74 0 70
British Virgin Islands 71 1 70
Macau 46 0 46
Dominica 42 0 29
Fiji 34 2 31
Timor-Leste 30 0 29
Grenada 28 0 24
New Caledonia 28 0 28
Vatican City 27 0 15
Laos 24 0 22
Saint Kitts and Nevis 19 0 19
Greenland 17 0 16
Saint Pierre Miquelon 16 0 12
Montserrat 13 1 12
Falkland Islands 13 0 13
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Solomon Islands 8 0 4
Anguilla 3 0 3
Marshall Islands 2 0 0
Wallis and Futuna 1 0 1
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/
Từ khóa:
id news:213559