Vàng Mua Bán
SJC HN 56,100 56,570
SJC HCM 56,100 56,550
DOJI AVPL / HN 56,050 56,500
DOJI AVPL / HCM 56,050 56,500
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,060.00 23,090.00
EUR 26,792.23 27,062.86
GBP 29,266.30 29,561.92
JPY 214.93 217.10
Chứng khoán
VNIndex 907.94 6.99 0.77%
HNX 130.58 1.38 1.06%
UPCOM 60.59 0.0 0.0%

COVID-19 chiều 27/5: Việt Nam không có ca nhiễm mới, thế giới hơn 5,7 triệu

PV (t/h) 18:27 | 27/05/2020

Chiều 27/5, thêm 6 ca khỏi bệnh, cả nước còn 49 ca đang điều trị COVID-19. Như vậy, đã 41 ngày Việt Nam không ghi nhận ca lây nhiễm COVID-19 trong cộng đồng.

Theo Ban Chỉ đạo Quốc gia Phòng chống dịch COVID-19, tính đến 18h ngày 27/5 Việt Nam đã qua 41 ngày không ghi nhận ca lây nhiễm COVID-19 mới trong cộng đồng. Trong ngày có 6 bệnh nhân đang điều trị được công bố khỏi bệnh, nâng số ca khỏi tại Việt Nam lên 278 ca trong tổng số 327 ca mắc COVID-19.

Trong đó, bệnh nhân nặng nhất trong số các bệnh nhân COVID-19 được điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tính đến thời điểm này là BN 19 (64 tuổi, nữ, quốc tịch Việt Nam), vào viện ngày 6/3. Bệnh nhân đã từng phải can thiệp thở máy xâm nhập, ECMO. Bệnh nhân đã từng ngừng tim 3 lần, các y bác sĩ của bệnh viện phải cấp cứu liên tục mới có thể tái lập tuần hoàn cho người bệnh.

Quá trình điều trị tại bệnh viện, bệnh nhân có kết quả xét nghiệm nhiều lần âm tính với SARS-CoV-2, trong đó, các xét nghiệm gần đây trong các ngày 8/4, 15/4 và 30/4 đều cho kết quả âm tính với SARS-CoV-2. Hiện tại bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, không sốt, không khó thở, dấu hiệu sinh tồn ổn định.

Trên thế giới, tính đến 18h ngày 27/5 (giờ Việt Nam), theo thống kê của Worldometers, toàn cầu ghi nhận 5.705.557 ca nhiễm, 352.690 ca tử vong và hơn 2,4 triệu ca phục hồi. 

Riêng tại khu vực Đông Nam Á, tình hình dịch COVID-19 đang diễn biến khá phức tạp tại Indonesia và Philippines. Một số nước còn lại như Lào và Thái Lan vẫn đang kiểm soát dịch khá tốt.

Cụ thể, chiều 27/5 tại Lào đã cuộc họp báo ở thủ đô Viêng Chăn, Ban chỉ đạo quốc gia về phòng chống dịch COVID-19 Lào cho biết tính tới thời điểm hiện tại, nước này đã có 45 ngày liên tiếp không phát hiện trường hợp nào dương tính với COVID-19.

Lào đã thực hiện tổng cộng 5.938 lần xét nghiệm, phát hiện 19 trường hợp dương tính với dịch COVID-19. Tại cuộc họp báo, đại diện Bộ Y tế Lào đã thông báo thêm tin vui trong cuộc chiến phòng chống COVID-19 tại nước này, theo đó, cũng trong ngày 27/5, đã có thêm 2 bệnh nhân của nước này được chữa khỏi và xuất viện để tiếp tục cách ly tại gia đình.

Như vậy, tính tới thời điểm hiện tại, Lào đã chữa khỏi cho 16/19 bệnh nhân mắc COVID-19. Dự kiến, nếu tình hình kiểm soát dịch COVID-19 tại Lào tiếp tục có tiến triển tốt như hiện tại, đầu tháng 6 tới, Chính phủ Lào có thể tiếp tục ban hành các biện pháp nới lỏng tiếp theo. 

Cùng ngày, Philippines thông báo có 380 ca nhiễm mới, mức cao nhất theo theo ngày trong hơn 7 tuần qua, nâng tổng số ca nhiễm lên 15.049, kể từ khi dịch bệnh xuất hiện hồi tháng 1.

Bộ Y tế nước này cho biết số ca khỏi bệnh tiếp tục tăng lên 3.506 sau khi có thêm 94 người khỏi bệnh. Tổng số ca tử vong tăng lên 904, sau khi có thêm 18 bệnh nhân tử vong. 17 thị trưởng khu vực thủ đô, nơi cư trú của 16,5 triệu người, đã đề nghị nới lỏng các biện pháp phòng dịch tại Manila và cho phép thêm nhiều hoạt động kinh doanh được nối lại với hy vọng khởi động lại nền kinh tế vốn đang bị tê liệt do lệnh đóng cửa áp dụng từ giữa tháng 3. 

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Theo ước tính, lệnh đóng cửa buộc người dân phải ở nhà và doanh nghiệp tạm dừng hoạt động đã khiến kinh tế Philippines suy giảm 0,2% trong quí I/2020.

Indonesia ngày 27/5 thông báo có thêm 686 ca nhiễm mới, đưa tổng số ca nhiễm tại nước này lên 23.851. Indonesia cũng xác nhận 55 ca tử vong mới, đưa tổng số ca tử vong lên 1.473. Tính đến 27/5, đã có 6.057 người khỏi bệnh.

Tại Jakarta, khoảng 400.000 công nhân ngành da giầy Indonesia mất việc làm do dịch COVID-19. Chủ tịch Hiệp hội da giầy Indonesia (Aprisindo), ông Firman Bakri cho biết ngành da giầy nước này đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch COVID-19.

Đặc biệt là thời điểm từ tháng 2/2020 đến nay, nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất đã bị ngưng trệ do các nhà cung cấp chính từ thị trường Trung Quốc tạm ngừng hoạt động. Nguyên liệu thô khan hiếm dẫn đến tình trạng giá cả bị đẩy lên cao, làm cho giá thành sản phẩm cũng tăng gấp nhiều lần so với giai đoạn trước khi bùng phát dịch bệnh.

Trong khi đó, việc xuất khẩu hàng hóa cũng đang gặp khó khăn do dịch COVID-19 gây ra. Trước tình trạng trên, các doanh nghiệp sản xuất da giầy của Indonesia không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tạm ngừng hoạt động và buộc phải cho công nhân nghỉ việc.

Theo thống kê sơ bộ, hiện có khoảng 400.000 công nhân da giầy của Inodnesia phải tạm thời nghỉ việc. Cũng theo ông Firman Bakri, những gì đang diễn ra cho thấy ngành da dày của Indonesia đang gặp rất nhiều khó khăn, rất nhiều nhà máy, xí nghiệp phải tạm thời đóng cửa, một số nhà máy vẫn cố gắng duy trì hoạt động nhưng chỉ vận hành với công suất khoảng 40% hoàn thành các đơn hàng xuất khẩu.

Tình trạng này sẽ còn tiếp tục kéo dài bởi dịch COVID-19 tại Indonesia vẫn chưa có dấu hiệu được kiểm soát. Như vậy, số lượng công nhân phải nghỉ việc chắc chắn sẽ tăng cao hơn rất nhiều so với con số hiện tại.

Trong khi đó, Thái Lan cùng ngày thông báo số ca nhiễm COVID-19 mới đã tăng thêm 9 người, tất cả đều là công dân Thái Lan quay trở về từ nước ngoài và được được cách ly. Bộ trưởng Y tế Thái Lan Sukhum Kanchanapimai cho rằng thời gian cách ly 14 ngày có thể không đủ dài và cần phải được xem xét lại.

Giới chức y tế sẽ tiếp tục thảo luận vấn đề này và xem liệu có cần kéo dài thời gian cách ly hay không. Tổng số ca nhiễm COVID-19 tại Thái Lan hiện là 3.054, trong đó có 2.931 ca khỏi bệnh. Tổng số ca tử vong vẫn là 57.

Trong ngày 27/5, Bộ Y tế Singapore đã công bố 533 ca nhiễm mới, nâng tổng số ca nhiễm tại nước này lên 32.876, trong khi đó Bộ Y tế Malaysia cho biết đã phát hiện 15 ca nhiễm mới COVID-19, nâng tổng số ca nhiễm tại nước này lên 7.619 và số ca tử vong vẫn là 115.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1068

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

947

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

31.276.684

CA NHIỄM

965.654

CA TỬ VONG

22.853.199

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 394 31 349
Hà Nội 161 0 154
Quảng Nam 101 3 91
Hồ Chí Minh 77 0 73
Bà Rịa - Vũng Tàu 47 0 29
Thái Bình 31 0 31
Bạc Liêu 27 0 27
Hải Dương 25 0 22
Ninh Bình 23 0 23
Vĩnh Phúc 19 0 19
Khánh Hòa 19 0 4
Thanh Hóa 18 0 18
Quảng Ninh 11 0 11
Bắc Giang 10 0 6
Bình Thuận 9 0 9
Nam Định 8 0 7
Quảng Ngãi 7 0 7
Tây Ninh 7 0 4
Quảng Trị 7 1 2
Đồng Tháp 6 0 6
Hoà Bình 6 0 6
Hà Nam 5 0 5
Cần Thơ 5 0 3
Trà Vinh 5 0 5
Hưng Yên 5 0 5
Lạng Sơn 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Hải Phòng 3 0 3
Đồng Nai 3 0 3
Đắk Lắk 3 0 3
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Thái Nguyên 1 0 1
Hà Giang 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Bình Dương 1 0 0
Bắc Ninh 1 0 1
Bến Tre 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Phú Thọ 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 7.005.686 204.122 4.250.497
India 5.491.410 87.933 4.396.399
Brazil 4.544.629 136.895 3.851.227
Russia 1.109.595 19.489 911.973
Peru 768.895 31.369 615.255
Colombia 765.076 24.208 633.199
Mexico 697.663 73.493 499.302
South Africa 661.211 15.953 590.071
Spain 659.334 30.495 0
Argentina 631.365 13.053 488.231
France 452.763 31.285 91.574
Chile 446.274 12.286 419.746
Iran 425.481 24.478 361.523
United Kingdom 394.257 41.777 0
Bangladesh 350.621 4.979 258.717
Saudi Arabia 329.754 4.485 310.439
Iraq 319.035 8.555 253.591
Pakistan 306.304 6.420 292.869
Turkey 302.867 7.506 267.233
Italy 298.156 35.707 218.351
Philippines 290.190 4.999 230.233
Germany 273.793 9.471 244.000
Indonesia 248.852 9.677 180.797
Israel 188.760 1.260 135.997
Ukraine 178.353 3.583 78.184
Canada 143.649 9.217 124.691
Bolivia 130.676 7.617 89.617
Ecuador 126.419 11.090 102.852
Qatar 123.604 211 120.540
Romania 113.589 4.458 90.649
Dominican Republic 108.289 2.047 81.668
Kazakhstan 107.307 1.671 101.941
Panama 106.203 2.257 81.365
Belgium 102.295 9.948 18.965
Egypt 102.015 5.770 89.532
Morocco 101.743 1.830 80.732
Kuwait 99.434 584 90.168
Oman 94.051 853 85.781
Netherlands 93.778 6.279 0
Sweden 88.237 5.865 0
United Arab Emirates 85.595 405 75.086
Guatemala 85.444 3.119 74.859
China 85.291 4.634 80.484
Poland 79.988 2.298 64.604
Japan 78.657 1.500 71.030
Belarus 75.674 780 73.265
Honduras 71.616 2.184 22.065
Ethiopia 68.820 1.096 28.314
Portugal 68.577 1.912 45.596
Venezuela 66.656 547 56.096
Nepal 65.276 427 47.238
Bahrain 65.039 223 57.950
Costa Rica 63.712 706 23.552
Singapore 57.607 27 57.181
Nigeria 57.242 1.098 48.569
Uzbekistan 51.789 435 47.932
Switzerland 50.378 2.049 40.500
Algeria 49.826 1.672 35.047
Czech Republic 49.290 503 24.755
Armenia 47.552 936 42.637
Moldova 46.596 1.203 34.236
Ghana 46.004 297 45.153
Kyrgyzstan 45.471 1.063 41.682
Azerbaijan 39.188 575 36.755
Afghanistan 39.074 1.444 32.576
Austria 38.658 767 29.516
Kenya 36.981 648 23.887
Palestine 36.151 265 24.428
Paraguay 33.520 659 18.117
Ireland 32.933 1.792 23.364
Serbia 32.908 741 31.411
Lebanon 29.303 297 12.047
Libya 28.796 450 15.384
El Salvador 27.553 812 21.575
Australia 26.912 851 24.063
Bosnia Herzegovina 25.521 770 18.109
Denmark 23.323 640 17.738
South Korea 23.045 385 20.248
Cameroon 20.431 416 19.124
Ivory Coast 19.320 120 18.460
Hungary 18.866 686 4.401
Bulgaria 18.863 761 13.580
Macedonia 16.735 693 13.863
Madagascar 16.073 225 14.682
Greece 15.142 338 9.989
Croatia 14.992 253 12.737
Senegal 14.738 302 11.458
Zambia 14.131 330 13.365
Sudan 13.555 836 6.760
Norway 12.897 267 10.371
Albania 12.385 362 6.940
Tunisia 10.732 159 2.386
Congo [DRC] 10.515 271 9.930
Namibia 10.377 112 8.033
Guinea 10.325 64 9.692
Malaysia 10.276 130 9.395
Maldives 9.724 33 8.261
French Guiana 9.692 65 9.341
Tajikistan 9.346 73 8.108
Finland 9.046 339 7.700
Gabon 8.696 53 7.848
Haiti 8.619 221 6.363
Montenegro 8.612 136 5.268
Luxembourg 7.907 124 6.703
Zimbabwe 7.683 225 5.924
Mauritania 7.368 161 6.951
Mozambique 6.771 43 3.622
Slovakia 6.756 39 3.571
Uganda 6.287 63 2.616
Myanmar 5.805 94 1.260
Malawi 5.731 179 4.040
Djibouti 5.403 61 5.335
Swaziland 5.269 104 4.624
Cape Verde 5.257 51 4.599
Cuba 5.091 115 4.412
Hong Kong 5.039 103 4.717
Equatorial Guinea 5.002 83 4.509
Jamaica 4.988 67 1.350
Democratic Republic Congo Brazzaville 4.986 89 3.887
Nicaragua 4.961 147 2.913
Central African Republic 4.786 62 1.830
Jordan 4.779 30 2.844
Suriname 4.723 97 4.488
Rwanda 4.711 26 2.961
Slovenia 4.470 142 3.048
Angola 3.991 152 1.445
Trinidad and Tobago 3.901 65 1.753
Lithuania 3.814 87 2.199
Syria 3.800 172 946
Georgia 3.695 20 1.534
Aruba 3.551 23 2.239
Mayotte 3.541 40 2.964
Gambia 3.526 108 1.992
Thailand 3.506 59 3.342
Somalia 3.442 98 2.877
Guadeloupe 3.426 26 837
Bahamas 3.315 74 1.689
Sri Lanka 3.287 13 3.100
Réunion 3.194 15 2.482
Mali 3.013 128 2.372
Estonia 2.941 64 2.379
Malta 2.776 22 2.079
South Sudan 2.642 49 1.290
Botswana 2.567 13 624
Iceland 2.346 10 2.121
Guinea-Bissau 2.303 39 1.127
Benin 2.280 40 1.950
Guyana 2.269 64 1.339
Sierra Leone 2.168 72 1.650
Yemen 2.026 586 1.227
Uruguay 1.917 46 1.621
Burkina Faso 1.846 56 1.187
New Zealand 1.815 25 1.728
Togo 1.666 41 1.269
Belize 1.627 21 918
Cyprus 1.600 22 1.282
Andorra 1.564 53 1.164
Latvia 1.526 36 1.248
Lesotho 1.424 33 754
Liberia 1.335 82 1.216
French Polynesia 1.271 2 1.028
Niger 1.188 69 1.104
Chad 1.151 81 967
Martinique 1.122 18 98
Vietnam 1.068 35 942
Sao Tome and Principe 908 15 878
San Marino 723 42 669
Diamond Princess 712 13 651
Turks and Caicos 668 5 572
Channel Islands 644 48 575
Sint Maarten 584 20 488
Papua New Guinea 517 7 232
Taiwan 509 7 479
Tanzania 509 21 183
Burundi 473 1 462
Comoros 470 7 450
Faeroe Islands 434 0 412
Mauritius 366 10 338
Eritrea 364 0 305
Gibraltar 350 0 323
Isle of Man 339 24 312
Saint Martin 330 6 206
Mongolia 312 0 302
Cambodia 275 0 274
Curaçao 268 1 96
Bhutan 261 0 192
Cayman Islands 208 1 204
Monaco 193 1 153
Barbados 189 7 173
Bermuda 180 9 166
Brunei 145 3 142
Seychelles 141 0 136
Liechtenstein 113 1 109
Antigua and Barbuda 96 3 92
British Virgin Islands 69 1 48
Saint Vincent and the Grenadines 64 0 64
Macau 46 0 46
Caribbean Netherlands 36 1 17
Fiji 32 2 26
Timor-Leste 27 0 26
Saint Lucia 27 0 26
New Caledonia 26 0 26
Grenada 24 0 24
Dominica 24 0 18
St. Barth 23 0 16
Laos 23 0 22
Saint Kitts and Nevis 17 0 17
Greenland 14 0 14
Falkland Islands 13 0 13
Montserrat 13 1 12
Vatican City 12 0 12
Saint Pierre Miquelon 11 0 5
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Anguilla 3 0 3
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/
Từ khóa:
id news:203214