Vàng Mua Bán
SJC HN 49,500 49,900
SJC HCM 49,500 49,880
DOJI AVPL / HN 49,570 49,770
DOJI AVPL / HCM 49,580 49,800
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,080.00 23,110.00
EUR 25,413.31 25,670.01
GBP 28,190.27 28,475.02
JPY 208.65 210.76
Chứng khoán
VNIndex 847.61 5.23 0.62%
HNX 111.55 -0.06 -0.05%
UPCOM 56.26 0.37 0.66%

Brazil đứng thứ 4 thế giới về số ca tử vong vì COVID-19

NGỌC CHÂU (t/h) 09:26 | 03/06/2020

Brazil ngày 2/6 có hơn 30.000 người tử vong vì COVID-19, theo số liệu mới, có 1.262 người đã tử vong trong 24 giờ qua ở Brazil, trong khi có 28.936 ca nhiễm mới.

Theo trang thống kê worldometers.info, tính đến 8h sáng 3/6 (theo giờ Việt Nam), thế giới đã ghi nhận tổng cộng 6.477.966 ca nhiễm COVID-19, trong đó có 382.188 ca tử vong. Số bệnh nhân bình phục là 3.009.648 người.

Mỹ vẫn đang là tâm dịch của thế giới với 1.881.205 ca nhiễm và 108.059 ca tử vong. Nguy cơ lây lan và bùng phát dịch càng tăng cao tại Mỹ khi làn sóng biểu tình bạo lực bùng phát trên quy mô toàn liên bang để phản đối cái chết của công dân da màu George Floyd khi bị cảnh sát da trắng bắt giữ. Thị trưởng New York Bill de Blasio thông báo sẽ duy trì lệnh giới nghiêm tại thành phố này từ 20h đến 5h sáng đến hết ngày 7/6.

Thành phố New York sẽ mở cửa lại một phần hoạt động vào ngày 8/6 theo kế hoạch, bởi số ca nhiễm bệnh và tử vong vì COVID-19 vẫn tiếp tục chiều hướng giảm. 

Biểu đồ tỷ lệ số ca nhiễm COVID-19 ở một số quốc gia trên thế giới tính đến 6h ngày 3/6.
Biểu đồ tỷ lệ số ca nhiễm COVID-19 ở một số quốc gia trên thế giới tính đến 6h ngày 3/6.

Trong khi đó, số liệu chính thức được Bộ Y tế Brazil công bố ngày 2/6 cho thấy quốc gia Nam Mỹ này đã có nhiều hơn 30.000 người tử vong vì COVID-19. Theo số liệu mới, có 1.262 người đã tử vong trong 24 giờ qua ở Brazil, trong khi có 28.936 ca nhiễm mới.

Như vậy, với tổng cộng 555.383 ca nhiễm COVID-19, Brazil là quốc gia có nhiều ca nhiễm thứ hai trên thế giới, sau Mỹ. Với 31.199 ca tử vong, Brazil có số ca tử vong nhiều thứ tư thế giới, sau Mỹ, Anh và Italy.

Một người đào mộ chuẩn bị chôn cất nạn nhân COVID-19, tại nghĩa trang Vila Formosa - nghĩa trang lớn nhất Brazil, Sao Paulo, Brail. Nguồn: Reuters.
Một người đào mộ chuẩn bị chôn cất nạn nhân COVID-19, tại nghĩa trang Vila Formosa - nghĩa trang lớn nhất Brazil, Sao Paulo, Brail. Nguồn: Reuters.

Một số nước khác ở châu Mỹ như Mexico, Peru hay Ecuador cũng đã bắt đầu thực hiện các bước đi hướng tới việc dỡ bỏ lệnh cách ly xã hội bắt buộc. Thậm chí, Nicaragua chưa từng chính thức áp dụng biện pháp giãn cách xã hội cho dù số các nhiễm bệnh và tử vong liên tục tăng trong những tuần qua. 

Tổ chức Y tế liên Mỹ (PAHO) bày tỏ lo ngại trước việc nhiều nước Mỹ Latinh bắt đầu nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế do tác động của đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 bất chấp việc khu vực này đang trở thành một tâm điểm mới của bệnh dịch trong thời gian gần đây.  

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Giám đốc PAHO Carissa Etienne cho biết trong tuần trước trên thế giới ghi nhận 732.000 ca nhiễm COVID-19 mới, trong đó có hơn 250.000 trường hợp tại Mỹ Latinh và điều đó cho thấy các nước trong khu vực cần phải tăng cường nỗ lực nhằm ngăn chặn đại dịch nguy hiểm này.

Tại châu Âu, trong 24 giờ qua, Nga ghi nhận 8.863 ca dương tính vớiCOVID-19 và 182 ca tử vong, qua đó nâng tổng số ca mắc COVID-19 và tử vong tại nước này lên 423.741 và 5.037 trường hợp.

Các trung tâm thương mại và công viên tại thủ đô Moskva của Nga được mở cửa trở lại từ ngày 1/6 khi thành phố này nới lỏng các biện pháp hạn chế nhằm kiềm chế dịch COVID-19 lây lan, cho dù số ca nhiễm tại Nga vẫn đang đứng thứ 3 thế giới.

Trong 24h qua, nước Anh chứng kiến số ca tử vong tăng trở lại với 324 trường hợp, nâng tổng số ca mắc COVID-19 lên 277.985 ca, trong đó có 39.369 ca tử vong.

Trong khi đó,  Italy chỉ ghi nhận thêm 318 ca nhiễm mới, nâng tổng số ca mắc COVID-19 tại nước này lên 233.515 ca. Đây là số ca nhiễm mới trong ngày thấp nhất kể từ ngày 26/2 vừa qua. Số ca tử vong tăng thêm 55 ca lên tổng cộng 33.530 ca. Đây cũng là mức tương đối thấp so với số liệu trung bình thời gian gần đây của nước này.

Chính phủ Đức cho biết sẽ dỡ bỏ cảnh báo đi lại với các nước châu Âu trong bối cảnh nhiều quốc gia tại châu lục này đang tiếp tục nới lỏng giãn cách xã hội được áp đặt trong nỗ lực kiềm chế sự lây lan của dịch COVID-19. Theo kế hoạch này, Đức sẽ dỡ bỏ cảnh báo đi lại và bắt đầu từ ngày 15/6 có thể nối lại việc đi lại ở ít nhất 31 nước châu Âu.

Trước đó, hồi tháng 3/2020, Chính phủ Đức đã đưa ra cảnh báo chính thức đối với việc đi lại ở châu Âu, biện pháp sẽ có hiệu lực cho đến ngày 14/6 tới. Số bệnh nhân mắc COVID-19 được điều trị tích cực những trong tuần qua ở Đức đã giảm mạnh. Theo số liệu của giới chức Đức, đến ngày 2/6 chỉ còn 689 bệnh nhân được điều trị tích cực, trong đó một nửa số ca phải dùng máy trợ thở.

Con số này giảm mạnh so với hồi giữa tháng 4/2020 khi có 2.900 ca được điều trị tích cực. Trong khi đó, số bệnh nhân thực tế bị nhiễm ở Đức hiện còn khoảng 7.100 người. Nhiều bang cuối tuần qua thông báo không ghi nhận thêm ca nhiễm mới.

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

355

CA NHIỄM

0

CA TỬ VONG

335

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

11.200.016

CA NHIỄM

528.953

CA TỬ VONG

6.037.907

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Hà Nội 112 0 81
Hồ Chí Minh 56 0 54
Vĩnh Phúc 19 0 14
Ninh Bình 13 0 11
Bình Thuận 9 0 9
Quảng Ninh 7 0 7
Đà Nẵng 6 0 6
Hà Nam 4 0 4
Đồng Tháp 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 3
Bắc Giang 4 0 4
Thanh Hoá 3 0 2
Tây Ninh 3 0 3
Bạc Liêu 3 0 3
Quảng Nam 3 0 3
Cần Thơ 2 0 2
Ninh Thuận 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Trà Vinh 2 0 2
Hà Giang 1 0 0
Bắc Ninh 1 0 1
Đồng Nai 1 0 0
Bến Tre 1 0 1
Hải Dương 1 0 1
Khánh Hoà 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hưng Yên 1 0 1
Thái Nguyên 1 0 0
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
US 2.838.678 129.672 894.325
Brazil 1.539.081 63.174 984.615
Russia 673.564 10.011 446.127
India 648.315 18.655 394.227
Peru 299.080 10.412 189.621
Chile 291.847 6.192 257.451
United Kingdom 286.412 44.283 1.375
Mexico 252.165 30.366 195.724
Spain 250.545 28.385 150.376
Italy 241.419 34.854 191.944
Iran 237.878 11.408 198.949
Pakistan 225.283 4.619 125.094
Saudi Arabia 205.929 1.858 143.256
Turkey 204.610 5.206 179.492
France 204.222 29.896 77.185
Germany 197.198 9.020 181.000
South Africa 187.977 3.026 91.227
Bangladesh 159.679 1.997 70.721
Colombia 109.793 4.001 45.409
Canada 107.185 8.732 70.507
Qatar 99.183 123 90.387
China 84.850 4.641 79.700
Argentina 75.376 1.481 25.930
Egypt 74.035 3.280 20.103
Sweden 71.419 5.420 0
Belarus 63.270 418 50.669
Indonesia 62.142 3.089 28.219
Belgium 61.838 9.771 17.091
Ecuador 61.535 4.769 28.507
Iraq 58.354 2.368 31.077
United Arab Emirates 50.857 321 39.857
Netherlands 50.548 6.132 187
Kuwait 49.303 365 39.943
Ukraine 48.628 1.243 21.907
Kazakhstan 45.719 188 15.556
Oman 45.106 203 26.968
Singapore 44.664 26 40.117
Portugal 43.569 1.605 28.772
Philippines 41.830 1.290 11.453
Panama 36.983 720 17.761
Bolivia 36.818 1.320 10.766
Dominican Republic 36.184 786 18.602
Poland 35.719 1.512 23.127
Afghanistan 32.672 826 19.164
Switzerland 32.198 1.965 29.200
Israel 29.170 330 17.816
Bahrain 28.857 96 23.959
Romania 28.582 1.731 19.854
Nigeria 28.167 634 11.462
Armenia 27.900 477 15.935
Ireland 25.509 1.741 23.364
Guatemala 22.501 920 3.330
Honduras 22.116 605 2.250
Azerbaijan 19.801 241 11.291
Japan 19.459 977 16.798
Ghana 19.388 117 14.330
Austria 18.165 705 16.607
Moldova 17.672 580 10.396
Serbia 15.829 306 13.176
Algeria 15.500 946 11.181
Nepal 15.491 34 6.415
Morocco 13.822 232 9.329
Denmark 13.032 606 12.017
Korea, South 13.030 283 11.811
Cameroon 12.592 313 10.100
Czechia 12.440 351 7.852
Cote d'Ivoire 10.462 72 4.807
Uzbekistan 9.708 31 6.425
Sudan 9.663 604 4.624
Norway 8.926 251 8.138
Malaysia 8.658 121 8.461
Australia 8.376 104 7.366
Kenya 7.577 159 2.236
El Salvador 7.507 210 4.434
Congo (Kinshasa) 7.379 182 2.961
Senegal 7.272 129 4.713
Finland 7.248 329 6.700
Kyrgyzstan 7.094 78 2.714
North Macedonia 6.932 334 2.987
Venezuela 6.537 59 2.100
Haiti 6.230 110 1.286
Tajikistan 6.159 52 4.809
Ethiopia 5.846 103 2.430
Bulgaria 5.677 241 2.898
Gabon 5.620 44 2.555
Guinea 5.570 34 4.496
Bosnia and Herzegovina 4.962 191 2.550
Mauritania 4.827 129 1.805
Djibouti 4.736 55 4.580
Costa Rica 4.621 18 1.721
Luxembourg 4.476 110 4.016
Hungary 4.174 589 2.784
Central African Republic 3.969 48 914
West Bank and Gaza 3.835 13 463
Greece 3.511 192 1.374
Thailand 3.185 58 3.066
Croatia 3.094 113 2.183
Equatorial Guinea 3.071 51 842
Kosovo 3.064 55 1.707
Somalia 2.961 92 973
Albania 2.819 74 1.637
Madagascar 2.728 29 1.078
Nicaragua 2.519 83 1.238
Maldives 2.435 10 1.976
Paraguay 2.385 20 1.134
Cuba 2.369 86 2.227
Mali 2.303 118 1.516
Sri Lanka 2.074 11 1.885
South Sudan 2.021 38 333
Estonia 1.993 69 1.870
Iceland 1.860 10 1.833
Lebanon 1.855 35 1.304
Lithuania 1.831 79 1.545
Guinea-Bissau 1.765 25 676
Slovakia 1.749 28 1.466
Slovenia 1.679 111 1.384
Zambia 1.632 30 1.348
Malawi 1.613 17 317
Congo (Brazzaville) 1.557 44 501
Sierra Leone 1.533 62 1.051
New Zealand 1.530 22 1.490
Cabo Verde 1.421 16 654
Yemen 1.248 337 537
Benin 1.199 21 333
Tunisia 1.186 50 1.046
Jordan 1.150 10 902
Latvia 1.123 30 1.000
Rwanda 1.092 3 523
Niger 1.082 68 963
Cyprus 1.002 19 839
Libya 989 27 258
Burkina Faso 987 53 854
Mozambique 969 7 256
Uruguay 955 28 840
Eswatini 954 13 535
Georgia 948 15 825
Uganda 927 0 868
Chad 871 74 787
Liberia 869 37 369
Andorra 855 52 800
Jamaica 728 10 569
Montenegro 720 13 315
Sao Tome and Principe 719 13 267
Diamond Princess 712 13 651
Zimbabwe 698 8 181
San Marino 698 42 656
Togo 676 15 432
Malta 672 9 651
Suriname 565 14 276
Tanzania 509 21 183
Taiwan* 449 7 438
Namibia 375 0 25
Vietnam 355 0 340
Angola 346 19 108
Mauritius 341 10 330
Syria 338 10 123
Burma 313 6 240
Comoros 309 7 241
Botswana 277 1 29
Guyana 272 14 120
Mongolia 220 0 183
Eritrea 215 0 56
Burundi 191 1 118
Cambodia 141 0 131
Brunei 141 3 138
Trinidad and Tobago 130 8 115
Monaco 106 4 95
Bahamas 104 11 89
Barbados 97 7 90
Liechtenstein 83 1 81
Seychelles 81 0 11
Bhutan 78 0 51
Antigua and Barbuda 68 3 23
Gambia 57 2 27
Lesotho 35 0 11
Belize 30 2 19
Saint Vincent and the Grenadines 29 0 29
Timor-Leste 24 0 24
Grenada 23 0 23
Saint Lucia 22 0 19
Laos 19 0 19
Dominica 18 0 18
Fiji 18 0 18
Saint Kitts and Nevis 16 0 15
Holy See 12 0 12
Papua New Guinea 11 0 8
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 0
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/
Từ khóa:
id news:203753