Vàng Mua Bán
SJC HN 56,200 56,720
SJC HCM 56,200 56,700
DOJI AVPL / HN 56,100 56,700
DOJI AVPL / HCM 56,200 56,650
Ngoại tệ Mua tiền mặt Bán
USD 23,060.00 23,090.00
EUR 26,321.11 26,586.98
GBP 29,187.70 29,482.52
JPY 213.88 216.04
Chứng khoán
VNIndex 935.41 1.73 0.18%
HNX 138.58 1.7 1.23%
UPCOM 63.08 0.23 0.36%

76% bệnh nhân COVID-19 Vũ Hán vẫn có các triệu chứng sau vài tháng

HOÀNG ANH 08:37 | 12/01/2021

Theo cnn.com, một công trình nghiên cứu của Trung Quốc cho thấy, hầu hết các bệnh nhân đã phải nhập viện vì nhiễm bệnh COVID-19 vẫn gặp phải nhiều triệu chứng khác nhau - bao gồm cả mệt mỏi và khó ngủ - 6 tháng sau khi họ bị nhiễm phải căn bệnh nguy hiểm này.

Nghiên cứu trên 1.700 bệnh nhân được điều trị tại TP. Vũ Hán (thủ phủ tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc) - tâm chấn ban đầu của đại dịch COVID-19, cho thấy 76% số bệnh nhân gặp phải ít nhất một triệu chứng vài tháng sau khi họ đã được xuất viện. Những phát hiện này chỉ ra rằng ngay cả những người đã bình phục sau khi bị nhiễm bệnh COVID-19 cũng có thể bị ảnh hưởng sức khỏe lâu dài do nhiễm virus SARS-CoV-2 gây căn bệnh hiện đã lây nhiễm cho hơn 90 triệu người trên toàn thế giới này.      

Công trình nghiên cứu trên – loại lớn nhất đã được thực hiện đến nay, được công bố hôm 8/1 trên tạp chí y khoa The Lancet. Nghiên cứu phát hiện rằng những mệt mỏi và khó ngủ là các triệu chứng phổ biến nhất sau khi một người bị nhiễm COVID-19, xảy ra lần lượt ở 63% và 26% bệnh nhân, sáu tháng tính từ khi họ bắt đầu được chẩn đoán ban đầu là đã bị nhiễm căn bệnh này.

Nghiên cứu cho thấy, căn bệnh này cũng có thể có các biến chứng tâm lý kéo dài, với 23% số trường hợp bệnh nhân lo lắng hoặc trầm cảm đã được báo cáo. Theo các nhà nghiên cứu, những bệnh nhân bị bệnh nặng hơn có xu hướng liên tục có bằng chứng về tổn thương phổi khi chụp X-quang.

ST-20200218
Ảnh minh họa

Bác sĩ Tào Bân (Cao Bin) thuộc Bệnh viện Hữu nghị Trung - Nhật và Đại học Y Thủ đô, người đứng đầu cuộc nghiên cứu, cho biết trong một tuyên bố: "Vì COVID-19 là một căn bệnh mới, nên chúng tôi chỉ mới bắt đầu hiểu được một số ảnh hưởng lâu dài của nó đối với sức khỏe của bệnh nhân.

Phân tích của chúng tôi chỉ ra rằng hầu hết các bệnh nhân tiếp tục sống với ít nhất một số ảnh hưởng của virus sau khi rời bệnh viện và nêu bật nhu cầu được chăm sóc sau khi xuất viện, đặc biệt đối với những người bị nhiễm bệnh nặng. Công việc của chúng tôi cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiến hành những nghiên cứu tiếp theo lâu dài hơn trong các quần thể lớn hơn để hiểu được toàn bộ phổ tác động mà COVID-19 có thể gây ra đối với con người".

Các nhà khoa học trên thế giới đang nghiên cứu những tác động kéo dài của virus SARS-CoV-2, thường được đề cập là triệu chứng "COVID kéo dài". Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) đã liệt kê mệt mỏi, khó thở, ho, đau khớp và đau ngực là những triệu chứng kéo dài được báo cáo phổ biến nhất. Những triệu chứng khác, ví dụ như khó suy nghĩ và tập trung - được gọi là "sương mù não, "trầm cảm và đau đầu, cũng được báo cáo ở những người mắc bệnh COVID-19 dài ngày.

CDC Mỹ cho biết, "mặc dù hầu hết những người bị bệnh COVID-19 hồi phục và trở lại sức khỏe bình thường, nhưng một số bệnh nhân có thể có những triệu chứng có thể kéo dài hàng tuần hoặc thậm chí hàng tháng sau khi hồi phục từ lúc mắc bệnh nặng. Ngay cả những người không phải nhập viện và bị bệnh nhẹ cũng có thể gặp phải những triệu chứng dai dẳng hoặc muộn".

Trong khi đó, một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y khoa Anh hồi tháng 8 cho thấy, khoảng 10% số bệnh nhân mắc COVID-19 kéo dài hơn 12 tuần.              

Đăng ký nhận bản tin hàng ngày

Bạn đã đăng ký nhận bản tin thàng công.

Các tác giả nghiên cứu của Trung Quốc cho biết, nghiên cứu của họ là công trình lớn nhất, với thời gian theo dõi dài nhất, để điều tra tác động lâu dài đối với các bệnh nhân đã được xuất viện. Các bệnh nhân được nghiên cứu, với độ tuổi trung bình là 57, đều được xuất viện từ ngày 7/1-29/5/2020, từ Bệnh viện Kim Ngân Đàn (Jinyintan) của Vũ Hán, một cơ sở được chỉ định điều trị COVID-19 và đã điều trị cho những người đầu tiên trên thế giới được biết là bị mắc bệnh này từ tháng 12/2019.

Tổng cộng, nghiên cứu này bao gồm sự tham gia của 70% tổng số bệnh nhân COVID-19 đã được xuất viện trong giai đoạn đó, sau khi loại trừ những người đã chết, những người không thể tham gia do tình trạng tinh thần hoặc thể chất nghiêm trọng và những người từ chối tham gia.

Nghiên cứu cho biết, tất cả những người tham gia được phỏng vấn với một loạt bảng câu hỏi để đánh giá các triệu chứng. Họ cũng được khám sức khỏe, kiểm tra đi bộ trong 6 phút và xét nghiệm máu. Điều bất ngờ là 13% số bệnh nhân này không xuất hiện tổn thương thận cấp khi nhập viện nhưng lại đang có dấu hiệu suy thận.             

Tuy nhiên, một nhóm các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Dược lý ở Bergamo, Italy, những người không tham gia vào công trình nghiên cứu trên, đã viết trong một bình luận đi kèm trên The Lancet rằng những phát hiện này "phải được giải thích một cách thận trọng" vì có những hạn chế đối với phương pháp mà nó đã được tiến hành. "             

Dù vậy, theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, những phát hiện về mệt mỏi, khó ngủ và lo lắng hoặc trầm cảm phù hợp với nghiên cứu trước đây đối với những bệnh nhân mắc một loại virus Corona liên quan đến việc gây ra hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS) vào năm 2003 và 2004.

Các nhà nghiên cứu cho biết, một nghiên cứu tiếp theo về những người sống sót sau SARS cho thấy 40% số bệnh nhân có các triệu chứng mệt mỏi mãn tính hơn ba năm sau khi nhiễm bệnh. Các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Dược lý ở Bergamo đã nhấn mạnh trong bình luận của họ rằng một nghiên cứu khác cho thấy, 38% những người sống sót sau SARS có bằng chứng về tổn thương phổi 15 năm sau đó.

(Nguồn: TTXVN)

Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19

VIỆT NAM

1537

CA NHIỄM

35

CA TỬ VONG

1380

CA PHỤC HỒI

THẾ GIỚI

95.206.805

CA NHIỄM

2.035.686

CA TỬ VONG

67.962.146

CA PHỤC HỒI

Nơi khởi bệnh Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
Đà Nẵng 417 31 380
Hà Nội 200 0 180
Hồ Chí Minh 158 0 146
Quảng Nam 107 3 103
Khánh Hòa 77 0 56
Bà Rịa - Vũng Tàu 70 0 66
Bạc Liêu 52 0 51
Thái Bình 38 0 38
Hải Dương 37 0 32
Ninh Bình 32 0 32
Hưng Yên 31 0 28
Bình Dương 28 0 18
Đồng Tháp 25 0 24
Thanh Hóa 24 0 21
Quảng Ninh 22 0 20
Hoà Bình 21 0 19
Bắc Giang 20 0 20
Vĩnh Phúc 19 0 19
Nam Định 15 0 15
Tây Ninh 11 0 7
Cần Thơ 10 0 10
Bình Thuận 10 0 10
Trà Vinh 8 0 5
Hà Nam 8 0 7
Bắc Ninh 8 0 8
Quảng Trị 7 1 6
Đồng Nai 7 0 7
Quảng Ngãi 7 0 7
Lạng Sơn 4 0 4
Hà Tĩnh 4 0 4
Hải Phòng 3 0 3
Ninh Thuận 3 0 3
Thanh Hoá 3 0 2
Phú Thọ 3 0 3
Đắk Lắk 3 0 3
Bến Tre 2 0 1
Thừa Thiên Huế 2 0 2
Lào Cai 2 0 2
Thái Nguyên 1 0 1
Cà Mau 1 0 1
Kiên Giang 1 0 1
Lai Châu 1 0 1
Hà Giang 1 0 1
Quốc Gia Nhiễm bệnh Tử vong Phục hồi
United States 24.339.327 405.835 14.347.956
India 10.571.658 152.447 10.209.048
Brazil 8.460.244 209.509 7.388.784
Russia 3.568.209 65.566 2.960.431
United Kingdom 3.395.959 89.261 1.519.106
France 2.894.347 70.142 208.071
Turkey 2.387.101 23.997 2.262.864
Italy 2.381.277 82.177 1.745.726
Spain 2.252.164 53.314 0
Germany 2.043.824 47.328 1.672.000
Colombia 1.891.034 48.256 1.711.924
Argentina 1.791.979 45.295 1.573.104
Mexico 1.630.258 140.241 1.212.403
Poland 1.435.582 33.355 1.181.326
Iran 1.330.411 56.803 1.119.137
South Africa 1.325.659 36.851 1.083.978
Ukraine 1.160.682 20.802 865.960
Peru 1.060.567 38.770 980.000
Netherlands 912.554 13.006 0
Indonesia 907.929 25.987 736.460
Czech Republic 889.159 14.338 726.409
Canada 705.605 17.934 611.163
Romania 693.644 17.221 622.414
Belgium 677.209 20.396 46.959
Chile 669.832 17.477 626.528
Iraq 608.232 12.944 569.429
Portugal 549.801 8.861 406.929
Israel 546.087 3.979 459.231
Bangladesh 527.632 7.906 472.437
Sweden 523.486 10.323 0
Pakistan 519.291 10.951 473.639
Philippines 500.577 9.895 465.991
Switzerland 495.228 8.680 317.600
Morocco 458.865 7.911 433.937
Austria 393.778 7.082 369.218
Serbia 372.533 3.750 31.536
Saudi Arabia 364.929 6.323 356.687
Hungary 351.828 11.341 228.615
Japan 322.296 4.446 248.488
Jordan 314.514 4.145 298.868
Panama 296.269 4.738 236.954
Nepal 267.322 1.959 261.444
United Arab Emirates 253.261 745 225.374
Lebanon 252.812 1.866 153.038
Georgia 247.805 2.933 232.993
Ecuador 230.808 14.316 193.581
Azerbaijan 227.273 3.009 215.268
Belarus 225.461 1.582 209.208
Croatia 224.954 4.616 216.280
Slovakia 223.325 3.474 168.915
Bulgaria 211.736 8.474 156.326
Dominican Republic 193.118 2.437 143.050
Denmark 189.088 1.775 168.379
Bolivia 185.680 9.596 142.948
Costa Rica 184.187 2.416 141.374
Tunisia 177.231 5.616 127.854
Ireland 172.726 2.608 23.364
Kazakhstan 168.096 2.349 153.035
Lithuania 167.516 2.445 104.188
Armenia 164.586 2.992 152.772
Malaysia 158.434 601 120.051
Kuwait 157.777 947 151.142
Egypt 155.507 8.527 122.291
Moldova 152.854 3.250 143.150
Palestine 152.031 1.718 139.131
Slovenia 149.125 3.180 122.008
Guatemala 148.888 5.254 134.344
Greece 148.607 5.469 9.989
Qatar 147.277 246 143.858
Myanmar 134.318 2.955 117.663
Honduras 133.507 3.348 60.056
Oman 131.790 1.512 124.067
Ethiopia 130.772 2.029 116.045
Paraguay 121.648 2.495 96.687
Venezuela 119.306 1.101 112.622
Bosnia Herzegovina 117.011 4.411 84.650
Libya 109.088 1.665 86.125
Nigeria 108.943 1.420 85.367
Algeria 103.611 2.831 70.373
Kenya 99.162 1.731 83.350
Bahrain 97.268 358 94.039
Macedonia 88.938 2.702 73.601
China 88.227 4.635 82.387
Kyrgyzstan 83.109 1.384 78.994
Uzbekistan 77.968 619 76.436
South Korea 72.340 1.249 58.253
Albania 67.690 1.277 40.453
Singapore 59.113 29 58.846
Norway 58.576 517 46.611
Ghana 56.981 341 55.236
Latvia 55.664 978 41.817
Montenegro 55.136 743 44.856
Afghanistan 54.062 2.343 45.868
Sri Lanka 53.062 264 45.171
El Salvador 50.784 1.487 44.777
Luxembourg 48.852 552 45.654
Finland 40.337 618 31.000
Uganda 38.085 304 13.083
Zambia 37.605 546 26.159
Estonia 37.079 325 26.443
Uruguay 31.669 298 23.136
Namibia 30.363 285 26.931
Cyprus 28.811 167 2.057
Australia 28.708 909 25.918
Cameroon 28.010 455 26.861
Zimbabwe 26.881 683 15.872
Mozambique 25.862 234 18.515
Sudan 25.730 1.576 15.240
Ivory Coast 24.856 141 23.104
Senegal 23.028 515 19.224
Congo [DRC] 20.908 631 14.807
Angola 18.765 431 16.225
Madagascar 18.001 267 17.447
French Polynesia 17.635 126 4.842
Cuba 17.501 166 13.180
Botswana 17.365 71 13.519
Mauritania 15.999 401 14.431
Malta 15.588 239 12.596
French Guiana 14.654 74 9.995
Maldives 14.513 49 13.540
Jamaica 14.161 324 11.709
Guinea 14.114 81 13.338
Tajikistan 13.308 90 13.218
Syria 12.942 824 6.474
Cape Verde 12.901 119 12.134
Swaziland 12.736 360 8.076
Thailand 12.054 70 9.015
Malawi 11.785 300 5.992
Belize 11.529 281 10.650
Rwanda 10.850 140 7.193
Haiti 10.681 238 8.905
Gabon 9.899 66 9.658
Hong Kong 9.558 162 8.758
Réunion 9.446 45 9.053
Andorra 9.038 91 8.116
Burkina Faso 9.000 101 7.102
Guadeloupe 8.886 154 2.242
Bahamas 8.032 175 6.525
Mali 7.823 308 5.531
Democratic Republic Congo Brazzaville 7.709 114 5.846
Suriname 7.469 141 6.689
Trinidad and Tobago 7.370 131 6.923
Guyana 6.851 170 6.126
Mayotte 6.611 58 2.964
Aruba 6.405 52 5.829
Lesotho 6.371 93 1.635
Martinique 6.263 44 98
Nicaragua 6.152 167 4.225
Iceland 5.956 29 5.767
Djibouti 5.903 61 5.819
Equatorial Guinea 5.356 86 5.189
Central African Republic 4.973 63 4.885
Somalia 4.744 130 3.666
Curaçao 4.514 19 4.286
Togo 4.272 73 3.763
Niger 4.132 138 2.951
Gambia 3.910 127 3.692
South Sudan 3.670 63 3.181
Gibraltar 3.670 43 2.689
Benin 3.413 46 3.245
Channel Islands 3.356 76 2.997
Sierra Leone 2.970 77 2.025
Chad 2.855 111 2.107
San Marino 2.778 65 2.455
Guinea-Bissau 2.478 45 2.400
Liechtenstein 2.383 49 2.264
New Zealand 2.256 25 2.149
Yemen 2.112 612 1.419
Liberia 1.887 84 1.701
Eritrea 1.877 6 1.073
Sint Maarten 1.641 27 1.491
Comoros 1.577 41 1.069
Vietnam 1.537 35 1.380
Mongolia 1.517 2 947
Monaco 1.194 7 977
Burundi 1.185 2 773
Sao Tome and Principe 1.130 17 993
Barbados 1.095 7 493
Turks and Caicos 1.079 6 863
Saint Martin 1.076 12 855
Taiwan 855 7 755
Bhutan 842 1 574
Papua New Guinea 834 9 755
Diamond Princess 712 13 699
Seychelles 705 2 539
Bermuda 670 12 583
Faeroe Islands 649 1 641
Saint Lucia 611 8 329
Mauritius 547 10 516
Tanzania 509 21 183
Saint Vincent and the Grenadines 478 1 111
Cambodia 439 0 385
Isle of Man 428 25 354
Cayman Islands 374 2 328
Caribbean Netherlands 360 3 244
St. Barth 251 1 172
Antigua and Barbuda 187 6 156
Brunei 174 3 168
Grenada 139 1 129
British Virgin Islands 114 1 95
Dominica 110 0 102
Fiji 55 2 53
Timor-Leste 52 0 49
Macau 46 0 46
New Caledonia 44 0 40
Laos 41 0 41
Saint Kitts and Nevis 34 0 32
Falkland Islands 32 0 27
Greenland 30 0 29
Vatican City 27 0 15
Solomon Islands 17 0 10
Saint Pierre Miquelon 16 0 16
Anguilla 15 0 15
Montserrat 13 1 12
Western Sahara 10 1 8
MS Zaandam 9 2 7
Marshall Islands 4 0 4
Wallis and Futuna 4 0 1
Samoa 2 0 2
Micronesia 1 0 0
Vanuatu 1 0 1
Dữ liệu trên được thống kê theo nguồn https://corona.kompa.ai/, https://ncov.moh.gov.vn/
Từ khóa:
id news:222320